Lời ngõ ý đầu đề trong trang của lính
Tôi HL mở trang này không có mục đích tuyên truyền đả kích một cá nhân hay một đoàn thể nào chỉ là vinh danh các chiến sĩ QLVNCH nói chung và các bạn hữu của tôi đã từng cầm súng nói riêng chiến đấu cho quê hương VN . Các bạn già của tôi ở đây dù quen hay không quen vẫn là những người cùng sát vai chiến đấu với lập trường chống cộng và để nhớ lại những chiến tích của chúng mình qua từng đơn vị đã tham gia . Nhất là để nhớ thương những chiến hữu TPB đã hy sinh một phần thân thể cho Tổ Quốc . HL tôi lúc nào cũng ghi nhớ , gần chục năm nay tôi vẫn thường giúp đỡ những anh em về vật chất trong những cảnh nghèo khó , nhưng tinh thần của các Anh em chúng mình đều có tâm niệm là người VN cùng chung dòng máu nhưng không chung TỔ QUỐC với bè lũ CS
Riêng đối với các bạn trẻ chưa từng cầm súng chiến đấu thì nên noi gương những bậc cha anh của mình giữ vững lập trường chống cộng , việc này đòi hỏi ở thế hệ các cháu đừng quên những gì về quê hương bọn CS đã và đang làm .
Thân chào
__________________
LOÀI KHỈ TRỞ THÀNH LOÀI NGƯỜI MẤT TRIỆU NĂM
LOÀI NGƯỜI MUỐN TRỞ THÀNH LOÀI KHỈ TRƯỜNG SƠN HÃY GIA NHẬP ĐẢNG CS VN
HÃy CÓ Ý THỨC HỆ TỰ HỎI " TÔI ĐÃ LÀM GÌ CHO TỔ QUỐC , ĐỪNG HỎI TỔ QUỐC ĐÃ LÀM GÌ CHO TÔI
The Following 10 Users Say Thank You to hoanglan22 For This Useful Post:
Tình hình trước khi nổ ra trận M’Drack
Theo hồi ký của Tướng CSVN Đặng Vũ Hiệp, Chính Ủy mặt trận Tây Nguyên, thì quân CSVN bắt đầu tấn công Ban Mê Thuột với 4 sư đoàn Bộ binh, gồm có:
- Sư đoàn 320 CSVN làm chốt chận giữa Pleiku và BMT. Tuy nhiên thực lực của Sư đoàn này chỉ có Trung đoàn 9 là còn nguyên vẹn, còn Trung đoàn 48 và Trung đoàn 64 bị thiệt hại nặng sau trận tấn công Căn cứ Pleime vào tháng 8 năm 1974.
*(Sư đoàn 320 CSVN được tướng Văn Tiến Dũng giao đánh chiếm chi khu Thuần Mẫn vào ngày 8-3-1975, làm chốt chận giữa Pleiku và BMT. Nhưng sư trưởng là Kim Tuấn “mánh” bằng cách đóng quân xa Quốc lộ 5 cây số cho nên chiều ngày 9-3 Liên đoàn 21 BĐQ từ Pleiku về Buôn Hô để tăng cường cho BMT mà quân của Kim Tuấn không chận đánh.
Thậm chí đoàn quân di tản từ Pleiku đi Phú Bổn ngang qua khu vực của sư đoàn 320 CSVN mà Kim Tuấn cũng không hay biết do vì “trốn quá kỹ”. Chính vì việc này mà Đại tá Kim Tuấn vẫn phải mang lon Đại tá cho tới ngày về hưu).
- Sư đoàn 10 CSVN với lực lượng còn nguyên vẹn nhưng Trung đoàn 66 và Trung đoàn 28 bị tổn thất khá nặng khi tấn công Căn cứ Núi Lửa và BCH/Chi khu Đức Lập vào ngày 9-3-1975. Riêng Trung đoàn 24 được giao nhiệm vụ hỗ trợ cho Sư đoàn 316 CSVN đánh vào trung tâm BMT.
Sư đoàn 316 CSVN được giao nhiệm vụ làm nổ lực chính tấn công vào thị xã BMT.
*(Sở dĩ tướng Hoàng Minh Thảo giao cho Sư đoàn 316 CSVN làm nổ lực chính vì là sư đoàn tân tuyển, bòn vét thanh niên Nghệ An ở hạng tuổi 16 , chưa đụng trận lần nào cho nên không biết sợ chết là gì. Còn nếu giao cho các sư đoàn 10 hay 320 thì họ thừa kinh nghiệm đánh trận bằng “mánh”; nghĩa là vẫn báo cáo về phía sau giống như họ đang tấn công vũ bão nhưng thực ra họ chỉ tấn công vào những chỗ không có địch; còn chỗ nào có địch thì họ né đi, vờ như đi lạc. Trong khi Trung đoàn bộ và Sư đoàn bộ ở đằng sau xa, ngoài tầm pháo binh và phi cơ).
- Trung đoàn biệt lập 95 B (Thuộc sư đoàn 325 B) cũng là trung đoàn tân tuyển từ Thanh Hóa, cũng ở hạng tuổi 16; được giao nhiệm vụ hỗ trợ cho SĐ 316 CSVN đánh vào BMT.
Trung đoàn 95 A biệt lập được giao nhiệm vụ làm chốt chận trên QL.19, giữa Pleiku và Quy Nhơn.
Trung đoàn 25 biệt lập được giao nhiệm vụ làm chốt chận trên QL.21, giữa BMT và Nha Trang.
*(Đây là trung đoàn chủ lực miền của Mặt trận Tây Nguyên của CSVN, đa số là người Miền Núi, có nhiều kinh nghiệm chiến trường tại khu vực Quốc Lộ 21. Nhưng cũng như sư đoàn 10 và 320, hễ khi nào thấy “khó ăn” thì họ biến mất vào núi rừng. Cho nên tốt nhất là cho họ làm chốt chận, nằm chết dí ở một vị trí cố định).
Rốt cuộc sau 5 ngày chiến đấu tại mặt trận BMT thì sư đoàn 316 CSVN bị Pháo Binh VNCH tiêu diệt tại Phi trường Phụng Dực. Và sau 5 ngày chiến đấu tại mặt trận Khánh Dương thì Trung đoàn 25/ CSVN và Trung đoàn 95 B/CSVN bị pháo binh và phi cơ VNCH tiêu diệt.
Cho nên sau khi chiếm được quân Khánh Dương vào ngày 22-3-1975 thì thực lực của quân CSVN chỉ còn Sư đoàn 10 CSVN là còn khả năng tiếp tục chiến đấu. Trong khi đó ngày 20-3-1975 Lữ đoàn 3 Dù của VNCH đã khóa đèo M’Drack với 3 tiểu đoàn Bộ Binh và 1 tiểu đoàn Pháo Binh.
Diễn tiến trận đánh
Năm 1975, ngày 23-3, hồi ký của tướng CSVN Đặng Vũ Hiệp ghi lại: “Đại đội 5 của Tiểu đoàn 8 do chính trị viên Lê Hải Triều chỉ huy được tăng cường một trung đội ĐKZ 82 ly, 1 trung đội vận tải 1 tổ thông tin 2W được lệnh của Sư đoàn trưởng ( Sư đoàn 10 CSVN ): “hành quân trên đường 21, gặp địch đâu đánh đó” ( trang 437 ).
*(Chính trị viên đại đội mà chỉ huy đại đội thì có nghĩa là Đại đội trưởng không còn. Và Tư lệnh sư đoàn mà ra lệnh cho đại đội trưởng thì có nghĩa là Tiểu đoàn trưởng và Trung đoàn trưởng cũng không còn.
Ông Tư lệnh sư đoàn mà lại ra một cái lệnh “gặp đâu đánh đó” thì ông ta không phải là sĩ quan hay tướng, mà là một ông đội trưởng du kích….Sự thực muốn ra một cái lệnh hành quân thì trước tiên phải biết tình hình địch và ta như thế nào; rồi sau đó phải cho thám báo hay trinh sát đi dọ lại… Đằng này chỉ biết xuỵt chó vô gai, bảo con người ta cứ tiến tới trước, hễ địch đã bỏ đi thì có nghĩa là ông Tư lệnh Sư đoàn đánh thắng, còn lỡ như gặp địch nó bắn cho chết thẳng cẳng thì ông Tư lệnh quay ra tìm súi đứa khác).
Tướng Hiệp viết tiếp: "Khi đại đội này vừa đến chân đèo, địch phát hiện được, chúng dùng súng 12,8 ly trên xe M.113 bắn xối xả vào đội hình; đồng thời địch cho máy bay đến ném bom….Chỉ huy đại đội 5 bình tỉnh cho bộ đội lợi dụng con suối nhỏ chạy dọc theo đường 21 trụ lại chuẩn bị đánh chiếm đèo".
*(Bất ngờ bị súng đại liên trên xe tăng bắn như mưa, lại thêm máy bay thả bom; mà lại bình tỉnh trụ lại để chiếm đèo thì quả là điên mất rồi. Địch trên đèo là 1 Lữ đoàn, khoảng 2.000 người, thì 1 đại đội, khoảng 100 người, lấy tư cách gì để chiếm đèo? Trong khi đúng sách vở thì quân tấn công bắt buộc phải gấp 3 quân phòng thủ).
Lại viết tiếp: "Lúc này… ta phát hiện địch đã chiếm đèo Ma Đrắc (bây giờ mới biết!), liền xin pháo binh bắn chi viện cho Đại đội 5. Ba loạt đạn đầu rơi trúng khu vực đỉnh đèo. Đến loạt đạn thứ tư, 2 quả đạn 155 ly rơi trúng đội hình Đại đội 5 làm cho 19 cán bộ, chiến sĩ hy sinh, hơn 20 đồng chí khác bị thương, gây tổn thất nghiêm trọng cho đơn vị này".
* Chú giải: Chi tiết 2 trái đạn 155 ly khiến cho các nhà quân sự học chú ý : Quân đội CSVN không có súng 155 ly và không biết sử dụng súng 155 ly của VNCH. Trong trang sau đó Tướng Hiệp cho biết kể từ lúc này quân CSVN dùng súng 155 ly tịch thu được tại BMT. Và đạn sử dụng cho súng 155 ly là đạn tịch thu tại kho đạn Mai Hắc Đế, BMT.
Sở dĩ phải dùng súng 155 ly của VNCH vì theo hồi ký của tướng Doãn Tế, chỉ huy trưởng Pháo binh CSVN tại Tây Nguyên, thì trong trận Ban Mê Thuột và trận Khánh Dương 2 trung đoàn pháo chiến dịch (130 ly và 122 ly) đã bắn hết số đạn 11 ngàn viên mà quân CSVN tại Tây Nguyên đang có.
Người ta ngạc nhiên là ngoài 4 khẩu 105 ly tại Phước Long bị lọt vào tay CSVN do bị phản bội, còn lại tất cả các khẩu pháo khác đều bị hủy bằng lựu đạn lân tinh trước khi rút lui. Ở đâu ra các khẩu 155 ly này? Rà lại chiến sự BMT trước đó thì chỉ có 2 khẩu 155 ly của Tiểu đoàn 230 Pháo Binh nằm tại Phi trường Phụng Dực, nhưng Trung úy Pháo Binh Phạm Ngọc Phụng xác nhận 2 khẩu 155 ly này đã được phá hủy cùng với 4 khẩu 105 ly trong ngày 15-3-1975.
Ngoài ra còn có 2 khẩu 155 ly thuộc Tiểu đoàn 63 Pháo Binh diện địa đặt tại BCH Chi khu Khánh Dương nhưng hai khẩu này đã được kéo về đèo M’Drack lúc 10 giờ sáng ngày 22-3-1975. Vậy chỉ còn lại hai khẩu 155 ly duy nhất tại BCH Chi Khu Phước An, cũng thuộc Tiểu đoàn 63 Pháo binh diện địa. Có lẽ hai khẩu 155 ly này không được phá hủy khi Phước An tan hàng vào chiều ngày 17-3-1975. Súng không bị phá hủy chứng tỏ sĩ quan Trung đội Trưởng hoặc Hạ sĩ Quan Khẩu trưởng bị khống chế bất ngờ.
Tướng Hiệp ghi nhận có tất cả 4 loạt đạn nhưng 3 loạt đạn đầu rơi trên đỉnh đèo, còn loạt đạn thứ 4 lại trúng ngay vào quân CSVN, và mỗi loạt chỉ có 2 trái; chứng tỏ chỉ có 2 khẩu chứ không hơn. Tới đây thì vấn đề là ai đã bắn hoặc chỉ cho CSVN cách sử dụng 2 khẩu súng đó ?
Chỉ có sĩ quan trung đội trưởng hoặc hạ sĩ quan khẩu đội trưởng mới có thể lấy yếu tố tác xạ bắn chính xác lên đỉnh đèo ngay loạt đạn đầu. Như vậy loạt đạn thứ 4 là loạt đạn được điều chỉnh lần thứ 3 thì chắc chắn phải rơi chính xác… nhưng lại là chính xác ngay đội hình của quân CSVN (!). Chứng tỏ người lấy yếu tố tác xạ lẫn người quay nòng súng đều là quân VNCH.
Những xạ thủ VNCH đã bất thần điều chỉnh cho đạn rơi vào quân CSVN thay vì vào quân VNCH. Trước đó họ bị buộc phải bắn dưới sức ép của những họng súng kê sau ót. Nhưng họ đã quyết định chết chứ không thể nào giết chiến hữu của mình, ngược lại họ đổi mạng họ với 1 đại đội quân CSVN.
Ngày 24-3, lúc 11 giờ sáng, quân Dù tại đỉnh đèo M’Drack phát hiện 5 xe tăng của quân CSVN đang di chuyển từ Khánh Dương đến M’Drack, pháo binh Dù tại giữa đèo bắn chận, phi cơ A.37 bắn hạ 3 chiếc tăng. Đồng thời phi cơ quan sát phát hiện một ổ phòng không địch bắn lên từ khu vực Rẫy Ông Kỳ, cách M’Drack 20 cây số. Phi cơ A37 lên oanh kích, hạ 2 vị trí phòng không.
Đây là lần đầu tiên súng cao xạ của CSVN xuất hiện sau trận Ban Mê Thuột từ ngày 10 đến ngày 13-3. Kể từ ngày đó các khẩu phòng không của CSVN im tiếng, ngoại trừ 1 loạt đạn phòng không bắn trúng trực thăng chở Tướng Lê Trung Tường vào ngày 16-3. Chứng tỏ quân CSVN cũng không còn đạn phòng không, có lẽ giờ đây đạn phòng không ở ngoài Bắc mới chuyển đến kịp. So lại với các sách vở của hai bên nói về cuộc di tản 8 ngày trên Liên Tỉnh Lộ 7 thì quả nhiên không hề có một khẩu phòng không nào xuất hiện. Quân VNCH hoàn toàn làm chủ trên Liên Tỉnh Lộ 7.
Ngày 25-3, lúc 4 giờ 30 sáng, quân CSVN pháo kích quân Dù tại đầu đèo M’Drack, trận pháo kéo dài khoảng 20 phút.
Lúc 5 giờ sáng, quân bộ binh CSVN tấn công Đại đội 53 Dù tại đầu đèo. Pháo binh Dù bắn yểm trợ quân phòng thủ . Lúc 6 giờ 15 sáng quân CSVN rút lui, phía Dù có 1 chết, 7 bị thương.
Lúc 7 giờ sáng, xe tăng của quân CSVN bắt đầu tiến tới đầu đèo M’Drack với quân bộ binh theo sau. Hỏa tiễn Tow của quân Dù bắn hạ 2 tăng, đại bác 106 ly không giật của quân Thiết giáp VNCH bắn hạ 1 tăng.
Lúc 8 giờ 30, quân CSVN rút lui, quân Dù đếm được 20 xác, thu 10 vũ khí. Phía Dù có 2 chết 11 bị thương.
Ngày 27-3, lúc 7 giờ sáng, quân CSVN pháo 130 ly vào khu vực đỉnh đèo, làm hư 2 khẩu 105 ly của Pháo Binh Dù. 4 khẩu pháo còn lại được lệnh rút về giữa đèo. Phi cơ A37 tấn công pháo binh CSVN tại khu vực phi trường Khánh Dương.
Lúc 5 giờ chiều, 1 phi cơ A.37 bị bắn rơi tại khu vực đầu đèo M’Drack, phi công nhảy dù xuống khu vực kiểm soát của quân Dù.
II. Trận M'Drack của Lữ Đoàn 3 Dù - 5 Ngày Cuối
Ngày 28-3, lúc 3 giờ chiều, Trung Tá Bùi Quyền, Tiểu đoàn Trưởng Tiểu đoàn 5 Dù đang trấn giữ tại đầu đèo M’Drack nhận được lệnh của BCH Lữ đoàn 3 Dù:
(1). Gởi trả chi đoàn Thiết vận xa M113 về BCH/Lữ đoàn 3 Dù. Cắt 1 đại đội Dù đi theo chi đoàn Thiết vận xa. Đại đội Dù và chi đoàn Thiết vận xa sẽ ở lại chặn hậu cho Tiểu đoàn 5 Dù rút trước, sau đó sẽ rút cuối cùng.
(2). Tiểu đoàn 5 Dù tìm cách đoạn chiến và rút về phía sau của Tiểu đoàn 6 Dù ở giữa đèo.
(3). Lữ đoàn 3 Dù sẽ về lập phòng tuyến mới tại đèo Rù Rì, Nha Trang.
Lúc 4 giờ chiều, phi cơ A37 bắn hạ 3 T54 đang di chuyển từ phi trường Khánh Dương xuống M’Drack.
Lúc chiều tối, đại đội 5/8 của Trung đoàn 25 CSVN, quân số còn không tới 30 người, phục kích đoàn xe tiếp tế cho quân Dù tại chân đèo M’Drack. Tiểu đoàn 2 Dù tại chân đèo đẩy lui quân tấn công nhưng toàn đoàn xe đã bị tiêu hủy.
*(Ngày 23 Trung đoàn 25 với quân số còn lại sau các trận đụng độ liên miên trên Quốc lộ 21 đã luồn rừng xuống giữa đèo và chân đèo mà không qua quân Dù tại M’drack. Sự kiện chận đánh đoàn xe tiếp vận khiến Lữ đoàn Trưởng Lữ đoàn 3 Dù e ngại quân CSVN từ Khánh Dương có thể đi vòng theo đường rừng để đánh bọc hậu quân Dù).
Lúc sẩm tối, chi đoàn M113 và đại đội trên cùng của Tiểu đoàn 5 Dù rời tuyến để rút xuống phía dưới. Từng chiếc M113 chở theo quân Dù rời tuyến cách khoảng để địch không phát hiện ra âm mưu rút quân. Trước đó họ đã gài mìn tự động để ngừa địch bám theo.
Lúc 10 giờ đêm, chi đoàn TVX và đại đội Dù vượt qua BCH Tiểu đoàn 5 Dù để xuống giữa đèo thì toàn bộ Tiểu đoàn 5 Dù rời vị trí để băng rừng xuống chân đèo.
Lúc 10 giờ 30 đêm, bãi mìn tự động trên tuyến đầu đèo phát nổ, chứng tỏ quân CSVN mò vào thám sát và đã biết quân Dù đã rút. Cùng lúc đó chi đoàn M.113 bị phục kích khi tới gần vị trí của Tiểu đoàn 6 Dù ở giữa đèo, có 3 M.113 bị bắn cháy. Chi đoàn vẫn tiếp tục chạy băng về phía trước.
Ngày 29-3, lúc 1 giờ 30 khuya, một đại đội của Tiểu đoàn 5 Dù chạm địch cách vị trí 2 chiếc M.113 bị bắn cháy khoảng 800 mét. Khoảng 1 trung đội thương vong, Đại đội Trưởng tử trận; thành phần còn lại tạt về BCH Tiểu đoàn.
Lúc 6 giờ sáng, Tiểu đoàn 5 Dù bắt được đường mòn di chuyển của khoảng 1 Trung đoàn CSVN đi qua trước đó. Tiều đoàn 5 Dù lần theo đường đó xuống chân đèo.
Lúc 10 giờ, theo hồi ký của Tướng CSVN Đặng Vũ Hiệp, quân CSVN mở màn tấn công quân Dù tại M’drack với một trận pháo bằng súng đại bác 155 ly của VNCH tịch thu được tại BMT. Hồi ký Tướng Hiệp:
"Mở đầu cuộc tiến công tiêu diệt Lữ đoàn 3 là trận pháo ác liệt giữa pháo binh ta và pháo binh địch làm rung chuyển cả đoạn đường đèo dài hơn 10 Km. Những khẩu pháo của ta vừa thu được ở Buôn Mê Thuột và những xe đạn pháo từ kho Mai Hắc Đế được chuyển đến đã giáng xuống các trận địa pháo của Lữ đoàn 3 Dù những đòn sấm sét…".
Thực ra thì chỉ có 2 khẩu 155 ly với hằng ngàn quả đạn, nhưng súng 155 ly bắn xa 15 cây số trong khi súng 105 ly của quân Dù chỉ bắn được 10 cây số cho nên Pháo Binh Dù đành chịu trận chứ không phản pháo được.
Lúc 10 giờ 30, phi cơ A.37 thả bom tại khu vực Khánh Dương , nơi đặt súng 155 ly của CSVN.
Lúc 11 giờ 15, Tiểu đoàn 6 Dù báo cáo quân CSVN đã rút lui khỏi khu vực đánh nhau ở giữa đèo, để lại một số xác chết; quân Dù tịch thu được một số vũ khí và bắt sống 4 tù binh thuộc Trung đoàn 25 CSVN. Lúc này Tiểu đoàn 5 Dù đã di chuyển xuống tới chân đèo và chuyển hướng về hướng Nam chứ không đâm ra Quốc Lộ 21.
Ngày 30-3, lúc 6 giờ 30 sáng, quân CSVN pháo kích đủ loại súng lớn, nhỏ vào vị trí của Tiểu đoàn 6 Dù ở giữa đèo và Tiểu đoàn 2 Dù ở chân đèo. Đồng thời xe tăng CSVN từ trên đầu đèo mở đèn pha chạy xuống.
Lúc 7 giờ 20, phi cơ thả bom tấn công đoàn Tăng của CSVN. Lửa cháy lan rộng khắp vùng cỏ tranh ở giữa đèo.
Lúc 9 giờ 30 chiến trường im tiếng súng, các máy truyền tin của BCH Lữ đoàn 3 Dù và các Tiểu đoàn 6, 2 không còn hoạt động.
Lúc 11 giờ trưa, Tiểu đoàn 5 Dù di chuyển bằng đường rừng để về quân Diên Khánh của tỉnh Khánh Hòa. Tiểu đoàn không liên lạc được với BCH Lữ đoàn.
Lúc 10 giờ 20 đêm, Lữ đoàn Trưởng Lữ đoàn 3 Dù là Trung Tá Lê Văn Phát liên lạc với BTL Quân đoàn II để xin yểm trợ. Tướng Phú ra lệnh “ráng chống đỡ đêm nay, ngày mai sẽ có 2 Tiểu đoàn BĐQ, và sau đó, sẽ có 1 Lữ đoàn TQLC lên chiến đấu tại mặt trận này”.
Thực ra lúc đó quân Dù cần biện pháp chế ngự pháo hạng nặng và chiến xa của quân CSVN, tức là cần vũ khí hiệu lực ngay tức thời.
Ngày 31-3, lúc 7 giờ sáng, Lữ đoàn 3 Dù báo cáo vị trí đầu đèo của Tiểu đoàn 5 Dù đã bị địch chiếm, không còn liên lạc được với TĐ 5 Dù. Thực ra TĐ 5 Dù đã rời tuyến đêm 28-3, hiện giờ đang trên đường băng rừng về Diên Khánh. Trong ngày có tất cả 20 phi tuần A37 thả bom yểm trợ cho quân Dù tại M’drack.
Tướng Phú xin được sử dụng 2 Tiểu đoàn BĐQ từ Bình Định về tăng cường phòng thủ đèo Cả lên thẳng đèo M’drack để phối hợp với quân Dù. (Tiểu đoàn 51 và Tiểu đoàn 35 thuộc Liên đoàn 6 BĐQ, trước đó 2 tiểu đoàn này phòng thủ đèo Bình Đê, giáp ranh với Quảng Ngãi).
Lúc 2 giờ chiều, Tướng Cao Văn Viên chấp thuận đưa 2 tiểu đoàn BĐQ lên đèo M’drack để tăng cường cho quân Dù.
Lúc 3 giờ 50, Tướng Phú cho lệnh sử dụng bom CBU để chận quân CSVN tại đèo M’drack.
Diễn tiến trận đánh từ 23-3 cho tới 30-3 được ghi theo hồi ký của Trung Tá Bùi Quyền, Tiểu đoàn Trưởng Tiểu đoàn 5 Dù VNCH.
Ngày 1-4, lúc 4 giờ sáng, Lữ đoàn Trưởng Lữ đoàn 3 Dù là Trung Tá Lê Văn Phát quyết định rút quân về Trung Tâm Huấn Luyện BĐQ Dục Mỹ, BCH Lữ đoàn và Tiểu đoàn 2 cùng với Tiểu đoàn 35 BĐQ, chi đoàn Thiết vận xa và 1 đại đội thuộc Tiểu đoàn 5 Dù rút bằng xe trong khi Tiểu đoàn 6 Dù và Tiểu đoàn 51 BĐQ ở lại chặn hậu.
Theo hồi ký của Tướng CSVN Đặng Vũ Hiệp: "Ngày 1 tháng 4, giữa lúc Sư đoàn 320 giải phóng thị xã Tuy Hòa, thì tại khu vực đèo Phượng Hoàng ( M’drack ) các chiến sĩ Sư đoàn 10, Trung đoàn 25 và xe tăng ta mở đợt tấn công vào toàn bộ các cụm quân của Lữ đoàn Dù 3. Sau 2 giờ chiến đấu, Lữ đoàn Dù 3 hoàn toàn bị tiêu diệt". (trang 439).
Sự thực thì lúc đó Lữ đoàn 3 Dù đã rút, chỉ còn Tiểu đoàn 6 Dù và Tiểu đoàn 51 BĐQ nhưng sau đó Tiểu đoàn 51 BĐQ rút trước, Thiếu Tá Tiểu đoàn Trưởng Đổng Kim Quang tử trận. Tiểu đoàn Trưởng Tiểu đoàn 6 Dù là Trung Tá Trần Hữu Thành cùng Tiểu đoàn ở lại chặn hậu cho đến khi hết đạn. Trung Tá Thành bị bắt làm tù binh.
Lúc 6 giờ sáng, Chỉ huy Trưởng Trung tâm huấn luyện Lam Sơn là Đại tá Nguyễn Hữu Toán thấy quân Dù rút ngang qua thì cũng cho lệnh TTHL/ Lam Sơn di tản.
Lúc 8 giờ sáng, đoàn quân của Đại Tá Toán kéo theo Trung tâm Huấn luyện Pháo Binh Dục Mỹ do Đại tá Hồ Sĩ Khải chỉ huy.
Lúc 9 giờ sáng, đoàn quân di tản ngang qua Trung tâm Huấn luyện Biệt Động Quân Dục Mỹ kéo theo đoàn di tản của Trung tâm do Đại Tá Nguyễn Văn Đại chỉ huy, BCH Lữ đoàn 3 Dù cũng rút theo Trung tâm huấn luyện BĐQ.
Lúc đó tại TTHL/BĐQ có Tiểu đoàn 58 BĐQ thuộc Liên đoàn 7 BĐQ từ Tuy Hòa rút về đang trấn giữ các cao điểm chung quanh TTHL/BĐQ Dục Mỹ, BCH Tiểu đoàn đóng tại Núi Đeo, cách TTHL 4 cây số. Thấy đoàn xe di tản đi ngang qua, Tiểu đoàn 58 liên lạc với TTHL nhưng không có trả lời, Tiểu đoàn Trưởng là Thiếu tá Phan Văn Kế bèn dẫn BCH Tiểu đoàn rút bộ về TTHL, tại đây mới hay là TTHL đã rút chạy. Tiểu đoàn trưởng TĐ.58 cho lệnh quân trên núi rút xuống quốc lộ rồi lội bộ ra Ninh Hòa, cách 8 cây số.
Ra tới ngã Ba Quốc Lộ 1 và Quốc Lộ 21 tại Ninh Hòa, quân Tiểu đoàn 58 thấy đoàn di tản của Phú Yên từ phía Bắc chạy về Nha Trang, đủ các loại xe cộ, và có cả chạy bộ. Thiếu Tá Kế cho lệnh tan hàng, tự tìm phương tiện về Sài Gòn, hẹn gặp nhau tại hậu cứ Liên đoàn 7 BĐQ.
Lúc 10 giờ sáng BCH Lữ đoàn 3 Dù trấn đóng đèo Rù Rì là cửa ngõ vào thành phố Nha Trang, Quân của các Trung tâm huấn luyện kéo thẳng vào Phan Rang. Đại tá Hồ Sĩ Khải, chỉ huy trưởng TTHL/Pháo binh Dục Mỹ nhập vào đơn vị của Sư đoàn 23 BB đang trấn giữ đèo Rọ Tượng, cách Nha Trang 28 cây số.
Buổi chiều, Tiểu đoàn 34 BĐQ đang trấn giữ đèo Cả thấy đoàn di tản từ Phú Yên chạy vào Nam loan báo quân CSVN đã chiếm Phú Yên nên cũng vội vàng lui binh theo đoàn Phú Yên, đến đèo Rọ Tượng thì gặp quân trấn thủ của Sư đoàn 23 đang trấn đóng tại đó nên trụ lại để xin lệnh BCH Liên đoàn 6 BĐQ nhưng họ không liên lạc được vì 2 tiểu đoàn BĐQ đã theo BCH Lữ đoàn 3 Dù và TTHL/BĐQ di chuyển về Phan Rang.
Lúc 11 giờ sáng, máy bay của Tướng Phú đáp xuống Trường Hạ Sĩ Quan Đồng Đế để đón Tướng Phạm Quốc Thuần đi bay thị sát toàn vùng Khánh Hòa. Thấy vậy các sĩ quan của trường cho lệnh mọi người “về nhà lo cho gia đình”, nghĩa là cho lệnh tan hàng để tự túc di tản.
Bùi Anh Trinh
__________________
LOÀI KHỈ TRỞ THÀNH LOÀI NGƯỜI MẤT TRIỆU NĂM
LOÀI NGƯỜI MUỐN TRỞ THÀNH LOÀI KHỈ TRƯỜNG SƠN HÃY GIA NHẬP ĐẢNG CS VN
HÃy CÓ Ý THỨC HỆ TỰ HỎI " TÔI ĐÃ LÀM GÌ CHO TỔ QUỐC , ĐỪNG HỎI TỔ QUỐC ĐÃ LÀM GÌ CHO TÔI
Last edited by hoanglan22; 11-08-2018 at 03:55.
The Following 6 Users Say Thank You to hoanglan22 For This Useful Post:
Khoảng cuối tháng 2-1972, một Chiến Đoàn cộng (+) gồm 2 tiểu đoàn của TRĐ8 và 2 tiểu đoàn 2/7 và 3/7 của SĐ5BB, dưới sự điều động của BCH/TRĐ8 mở một cuộc hành quân. Cuộc lục soát quy mô diễn ra trong vùng Mỏ Vẹt, khoảng giữa biên giới Việt Nam và Kampuchia. Mục đích là nhằm xác định lại tin tức tình báo: Việt Cộng đang chuyển quân về đây với số lượng lớn, nhằm đánh chiếm tỉnh Bình Long, làm thủ đô cho cái lực lượng gọi là Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam.
Lúc này tôi đang là ĐĐ phó ĐĐ5 của TĐ2/7. ĐĐ trưởng là Đạt, khóa 23 Võ Bị. Đạt ra trường tháng 12-1969, về ĐĐ/TS7. Tôi ra trường tháng 2-1971 và được đưa về tiểu đoàn này lúc đó đang hành quân vùng Snuol, Kampuchia. Đạt được chuyển từ ĐĐ/TS7 về thay cho Trung úy Tâm thuyên chuyển. Mặc dù đi lính trước tôi 2 năm nhưng thời gian trên Đà Lạt, 2 quân trường chúng tôi biết nhau rất rõ. Chúng tôi mỗi năm vào mùa quân sự đều sang học nhờ bên Võ Bị. Tôi cũng quen khá nhiều các SVSQ khóa 23VB. Có vài người từng học chung lớp hồi trung học với tôi. Thành thử giữa Đạt và tôi có sự thông cảm dễ dàng.
Đơn vị chúng tôi trên đường hành quân đã gặp những con đường khá rộng cỡ 5-6m do xe cơ giới ủi băng qua những khu rừng, những đồn điền cao su trùng điệp từ gần biên giới về sát ngoại vi tỉnh Bình Long. Những con đường đất đỏ còn mới toanh. Dọc theo bên đường trải dài những bó giây điện thoại to cỡ ngón tay, bọc ngoài bằng một lớp cao su màu đen khá chắc, chưa kịp chôn dấu trong lòng đất. Có phải bọn Việt Cộng đã quá coi thường phe ta hay vì thời gian ấn định quá gấp rút chúng phải hoàn thành cho được nhiệm vụ cấp trên giao phó nên không thể kỹ càng ngụy trang chăng?
Tiểu đoàn chúng tôi được lệnh bung rộng và lục soát. Đã có nhiều cuộc đụng độ. Đa phần, hình như chúng là những toán công binh hoặc đơn vị truyền tin đi thiết lập mạng giây liên lạc, nên mỗi khi chạm trán phe ta, chúng chỉ nổ súng lấy lệ và bỏ chạy. Cuộc hành quân sang tới ngày thứ năm thì chúng tôi được tin quận Lộc Ninh, cực bắc của tỉnh Bình Long đã thất thủ và TRĐ9 coi như bị mất liên lạc. Chúng tôi được lệnh, bằng mọi giá phải kéo về gấp để bảo vệ thị xã An Lộc. Trên đường về, chúng tôi di chuyển như chạy. Có những đụng độ trên đường nhưng chúng tôi không thèm quan tâm đến kết quả như địch chết bao nhiêu, vũ khí cũng không cần thu lượm! Điều quan trọng hàng đầu là kéo về Bình Long càng sớm càng tốt. Phải mất ba ngày để vào đến vùng hành quân sát biên giới nhưng chưa đầy một ngày, quân ta đã về tới thị xã và được phân chia vị trí bố quân.
Đại đội tôi, đang phiên trực chính của tiểu đoàn, được giao nhiệm vụ án ngữ phía bắc thị xã, đóng quân hai bên QL13, hướng về phía Bắc là cầu Cần Lê. Ngoài xa một chút là ngọn đồi Đồng Long, một cao điểm do một trung đội ĐPQ trấn giữ. Các đại đội còn lại được điều về bảo vệ mặt nam của thị xã từ QL13 kéo về hướng tây. Ngay góc tây nam thị xã là một căn cứ của ĐPQ, đồn Lam Sơn, được giao cho BCH/TĐ. Phía tay phải, TĐ3/7-SĐ5BB trách nhiệm bảo vệ mặt tây thị xã mà BCH/TĐ đóng trong Ty Hồi Chánh tỉnh. Đó là những gì tôi được biết về trách nhiệm của 2 tiểu đoàn thuộc TRĐ7, biệt phái cho Chiến đoàn 8 trong những ngày đầu tiên tại An Lộc. Ngoài SĐ5BB, tôi nhận thấy có sự hiện diện của LĐ3BĐQ, các TĐ/ĐPQ cơ hữu của tỉnh, một số trung đội Nghĩa Quân, Nhân Dân Tự Vệ... Tổng cộng quân số của ta trong tỉnh chỉ vỏn vẹn cỡ một sư đoàn.
Xin nói sơ qua về thị xã An Lộc. Diện tích thị trấn chính của tỉnh Bình Long không rộng quá 2km2. Nằm dọc hai bên QL13, từ đồn điền Xa Cam phía nam lên đến đồi Đồng Long phía bắc chừng hơn cây số. Bề ngang, từ phạm vi Ty Hồi Chánh kéo qua đồn điền cao su Quản Lợi, rồi tới mấy ấp nhà dân cũng tối đa chừng 2km. Trong vài ngày đầu, không khí trong thị xã có vẻ nhốn nháo. Dân chúng khá hoang mang với cái tin Lộc Ninh đã mất vào tay Việt Cộng và bọn chúng đang sửa soạn kéo quân về đây. Tuy thấy quân ta vẫn còn hiện diện và đang chuẩn bị ứng phó, dân chúng vẫn không tránh khỏi lo sợ. Chỉ có điều, họ biết đi đâu bây giờ. Nhà cửa, ruộng vườn, sản nghiệp, mồ mả ông bà, tổ tiên tất cả đều ở đây. Làm sao họ nỡ rời bỏ ra đi.
Bọn Việt Cộng lúc này bắt đầu pháo kích lai rai vào thị xã. Có lẽ chúng có bọn nằm vùng cho tọa độ và chúng đang bắn thử để điều chỉnh. Sau gần một tuần hành quân trong rừng, lúc đại đội đã ổn định vị trí, tôi cũng cần mua ít đồ dùng cá nhân nên nói Đạt ra chợ một chút. Từ chỗ đóng quân ra khu chợ mới, đi bộ chưa tới 10 phút. Nhắm một quán cà phê có tiếng nhạc văng vẳng dội ra, tôi bước vào.
- Ê, Lân!
Tôi quay sang cái bàn có tiếng gọi.
- Ủa, Nguyện. Khỏe không? Cùng Trung Đoàn mà lâu quá tao mới có dịp gặp mày.
Tôn Thất Nguyện, cùng khóa với tôi, cùng trong nhóm 7 tên về TRĐ7BB, cùng nghe lời xúi dại của tôi trình diện trễ, nên cả bọn bị nhốt 7 ngày trong cái bunker trước cổng Căn cứ dã chiến của Trung Đoàn nằm phía bắc sân bay Phước Bình, dưới chân núi Bà Rá của tỉnh Phước Long.
Đúng ra chẳng phải chúng tôi có ý ba gai. Chỉ vì ông Đại úy Mão, chỉ huy hậu cứ TRĐ7, lúc đó còn đặt ở Phú Văn, đã gom mấy cái căn cước quân nhân của tụi tôi cất vào ngăn tủ. Tôi đòi ông ta đưa lại, ông ta không trả, nại lý do lệnh TRĐ trưởng. Tôi giải thích cho ông ta biết chúng tôi là những sĩ quan hiện dịch chứ không phải tân binh quân dịch, ông không thể coi thường chúng tôi. Có lẽ ông ta nghĩ ông có cấp bậc lớn hơn và tụi tôi chỉ là đám sĩ quan mới ra trường vô phép tắc nên không thèm nói chuyện tiếp. Vì tự ái, chúng tôi đã bàn nhau đi thêm một tuần lễ nữa.
Tới ngày mãn hạn, Nguyện là tay may mắn nhất, hắn được đưa về làm ĐĐ phó cho một niên trưởng Khóa 1, Trung úy Lê Bắc Việt, ĐĐ trưởng ĐĐ9/TĐ3/7. Những người còn lại cũng nhận đơn vị là những tiểu đoàn đang hành quân vùng nội địa. Riêng tôi có “số xuất ngoại”, được đưa về TĐ2/7 đang hành quân tận Kampuchia. Tôi phải mất một thời gian khá vất vả lúc đầu vì không người hướng dẫn. ĐĐ trưởng của tôi khi đó là một Trung úy từ Hạ sĩ quan đặc biệt đi lên. Hắn luôn có mặc cảm với đám sĩ quan mới ra trường, nhất là sĩ quan hiện dịch. Nhưng cũng nhờ vậy mà tôi đã tự học được rất nhiều kinh nghiệm bổ ích để có thể tồn tại và tiến thân sau này.
Tôi còn nhớ lần đầu tiên gặp Niên trưởng Việt... Anh lái chiếc Jeep lùn, đầu đội nón sắt, có bao một lớp vải ngụy trang giống màu vải áo dù và được bao quanh bằng một sợi cao su dẹp, to bản, ép dính một hộp băng cứu thương cá nhân hình chữ nhật vào bên hông chiếc nón sắt. Bộ quân phục màu cứt ngựa anh mặc trên người phủ một lớp bụi màu đỏ của đất núi vùng cao nguyên. Sợi dây ba chạc anh mang, lủng lẳng khẩu Colt nằm trong cái bao da màu nâu, xệ xuống bên hông phải. Trên thành ghế là cái áo giáp, một bên túi có nhét tấm bản đồ hành quân với lớp bọc nylon trong suốt phủ bên ngoài; túi bên kia máng một cái đèn pin nhà binh màu olive. Niên trưởng nhìn đám đàn em mới ra trường với ánh mắt đầy trìu mến. Cái anh mắt đó, tôi còn nhớ mãi tới ngày hôm nay. Mãi về sau này, tôi mới hiểu ý nghĩa cái nhìn đó. Anh đã từng lặn lội xông pha, từng đối đầu hiểm nguy chết chóc nên anh thương cho đám đàn em bắt đầu nối gót các anh với những gian nan đang chờ đợi. Là người đi trước, anh ước gì có thể bảo bọc cho những đứa em còn non nớt. Đó cũng là tâm trạng của tôi sau này. Tôi từng mong chờ, nếu có một chú Khóa 3 nào, ra trường về đơn vị, tôi cũng sẽ truyền đạt tất cả những kinh nghiệm sống của mình để chú ta sẽ bớt đi những vất vả, bỡ ngỡ ban đầu, để có thể tồn tại như tôi. Nhưng, Khóa 3 chả có ai phải về các sư đoàn tác chiến cả.
Buổi gặp gỡ trong quán cà phê nhạc với Nguyện cũng nhanh chóng trôi qua. Tôi chỉ hỏi sơ qua chỗ Nguyện đóng quân để nếu rảnh có thể tìm tới nói chuyện. Khi đứng lên giã từ, tôi nhắn Nguyện cho tôi gởi lời thăm Niên trưởng Việt.
Qua ngày hôm sau, đại đội tôi được lệnh ra đóng chốt trong khu rừng cao su Xa Cam, hướng nam thị xã, cách cổng Nam cả cây số. Đại đội tôi đóng ở đây như là cái chốt tiền tiêu cho thị xã, nhằm phát hiện cũng như không để Cộng quân áp sát vào vòng đai thị xã. Vị trí đóng quân nằm sâu trong lô cao su cách QL13 chừng 300m. Phía bên kia quốc lộ là một vùng đất trống đã được khai quang sâu cả nửa cây số. Nhìn xéo về hướng đông nam, xa xa là ngọn Đồi Gió mà sau này, quân Dù đã đổ bộ xuống và kéo vào giải tỏa áp lực vòng vây cho thị xã.
Đạt cho bung sâu về hướng tây một trung đội, cách 200m, để giữ an ninh bên hông cho BCH đại đội. Về hướng nam, Đạt cho một tiểu đội đóng chốt cách vị trí đại đội chừng hơn 100m để quan sát từ xa. Hướng đông là QL13, địa thế trống trải, chắc chắn bọn Việt Cộng không ngu dại gì dùng hướng này để tấn công tụi tôi. Mặt bắc, chính là thị xã, cách chúng tôi cả cây số với một đường hào rộng, sâu đầy mìn và chướng ngại vật mục đích để chống chiến xa, chúng tôi không cần đặt chốt nào thêm cả. Tất cả mọi người đều phải đào hầm hố có nắp kiên cố để chống pháo kích. Kinh nghiệm những lần đụng độ trên đất Kampuchia khiến chúng tôi ngày càng học được những điều hay để sinh tồn. Chúng tôi cho lính sắm những lưỡi cưa mang theo và sẵn sàng cưa những nhánh cao su để làm nắp hầm. Chỉ vài tiếng sau, chúng tôi đã ổn định vị trí. Tôi giúp Đạt ra tận trung đội tiền đồn để kiểm tra hầm hố cũng như hướng dẫn những vị trí gài mìn tự động.
Một ngày một đêm yên tịnh trôi qua. Ở ngoài này chúng tôi không bị pháo kích như lúc còn nằm trong thị xã. Tụi tôi chỉ nghe thấy tiếng đạn đại bác bắn đi từ hướng bắc và tây bắc rót vào thị xã tạo những âm thanh ì ùng bất kể ngày đêm.
Khoảng nửa đêm ngày thứ nhì, chúng tôi đang yên giấc thì nghe có hai tiếng mìn Claymore nổ vang dội trong rừng cao su mênh mông, cách nhau chừng một phút. Mọi người lật đật nhào xuống hố, báo động, sẵn sàng chiến đấu. Tất cả đều dõi mắt quan sát bên ngoài dù trời tối đen như mực. Không một tiếng động. Chuyện mìn tự động nổ trong đêm khuya cũng khá bình thường. Nhiều khi chỉ là một cành cây khô rớt, có lúc lại là một con thú rừng vô tình chạy ngang chạm dây bẫy... Tuy nhiên với tình hình hiện nay, chúng tôi phải cảnh giác cao độ. Chờ chừng nửa tiếng, không có gì khác lạ, Đạt cho lệnh chấm dứt báo động.
Tờ mờ sáng hôm sau, trung đội tiền tiêu cho lính ra lục soát hướng có hai trái mìn nổ đêm rồi. Trung đội gọi máy về báo có hai xác Việt Cộng và lấy được hai khẩu AK47. Tôi thay Đạt dẫn hai tên lính Quân Báo ra ngay vị trí. Hai cái xác mặc đồ bộ đội chính quy màu xanh cứt ngựa dính dầy bụi đất đỏ nằm chết ở hai vị trí cách nhau vài chục mét. Tính theo lô cao su, có lẽ chúng chia thành hai cánh, lần theo các gốc cây, để dò đường. Có khả năng xâm nhập ban đêm, đây phải là tụi đặc công hoặc ít ra cũng là đơn vị trinh sát tinh nhuệ. Tôi cố gắng quan sát thật kỹ nhưng vì khu rừng cao su không có nhiều cỏ thấp nên khó có thể ước đoán số lượng toán quân địch đi chuyển là bao nhiêu người. Tôi về lại vị trí đại đội đóng quân và báo lại cho Đạt những nhận xét của mình.
Chúng tôi bước sang ngày thứ ba. Một ngày nữa lại trôi qua. Lượng nước chúng tôi đem theo đã bắt đầu cạn dần mặc dù chúng tôi đã rất hạn chế. Nằm một chỗ nên lính tráng không mệt nên cũng ít uống nước. Chúng tôi, phần tiết kiệm nước, phần không muốn nhóm lửa vì nấu nướng có khói dễ lộ vị trí. Thay vào đó, lính tráng phải đổ nước lạnh vào các bao gạo sấy và bóp cho mềm để ăn. Xin tiểu đoàn tiếp tế nước thì được trả lời, tiểu đoàn cũng không có phương tiện, chưa kể đến tình trạng pháo kích thường xuyên trong thị xã cũng là một trở ngại lớn lao. Đạt ra lệnh mọi người phải tiết kiệm xử dụng nước tối đa vì chưa biết đến khi nào mới được tiếp tế. Khi màn đêm buông xuống, trừ những người có nhiệm vụ canh gác, tất cả đều cố nhắm mắt dỗ giấc ngủ, hy vọng quên đi những căng thẳng đang rình rập trong bóng đêm dầy đặc chung quanh.
Thế rồi, lại đúng khoảng nửa đêm, cũng hai tiếng mìn nổ, xé toang cảnh tĩnh mịch trong đêm vắng. Cùng một lúc, ngay trong phạm vi đóng quân của đại đội, chúng tôi nghe có tiếng la: “Xung phong, xung phong”.
“Chết mẹ, tụi nó vào tới tuyến hồi nào mà lính gác không phát hiện được!”. Tôi thầm nghĩ trong bụng trong lúc nhào xuống vị trí trong căn hầm của BC đại đội. Những ánh lửa lóe lên, những vệt đạn bay tứ phía vào không gian. Những tiếng nổ của lựu đạn, M79, trộn lẫn tiếng súng cá nhân, những tràng đại liên M60... vang lên trong hỗn loạn. Trong hoàn cảnh này, mọi lệnh lạc chỉ huy trở thành vô nghĩa. Đại đội tôi, từng được hướng dẫn về kinh nghiệm tác chiến chống đặc công mà tôi đã trải qua khi đặc công Việt Cộng đánh trường năm xưa, bây giờ họ áp dụng khá hữu hiệu.
Cảnh hỗn loạn trong bóng đêm kéo dài chỉ khoảng chừng 15 phút rồi im bặt. Để không làm lộ vị trí, chúng tôi không xử dụng liên lạc vô tuyến. Tất cả nằm yên tại chỗ chờ cho trời sáng, bất cứ ai di chuyển trên mặt đất là địch.
Buổi sáng sớm khi sương mờ chưa tan hẳn, chúng tôi bắt đầu bò lên khỏi hầm hố chiến đấu và kiểm tra lại phòng tuyến. Hai cái xác trần truồng nằm tại hai vị trí khác nhau trong phạm vi đóng quân của đại đội. Quanh bụng mỗi tên là một sợi dây, đeo lủng lẳng những trái bê-ta nội hóa vỏ bằng gỗ. Một tên mà đầu, mình, tứ chi lỗ chỗ vết đạn, đủ các loại, tay còn cầm K54. Tên còn lại, một đầu đạn M79 mầu vàng xuyên thủng qua lớp da bụng còn nằm yên trong đó chưa kịp nổ, khẩu K54 rớt cạnh đó chừng một thước. Khoảng cách bắn quá gần. Bộ đồ lòng của cái xác đổ ra ngoài lớp da bụng, tràn xuống mặt đất đã thẫm mầu máu thành những quầng thâm đen. Rải rác đó đây vài trái bê-ta đã rút chốt nhưng không nổ. Những thân cây cao su vô cớ lãnh oan những vết đạn đủ loại đang ứa những dòng mủ trắng chảy dài xuống mặt đất đỏ. Tình hình quân ta hoàn toàn vô sự. Máy PRC25 từ trung đội tiền tiêu báo về sau khi lục soát vị trí nổ của hai trái mìn: hai xác Việt Cộng nữa với một AK, một B40. Lục soát trong người một tên có một bức thư và trung đội trưởng toán tiền tiêu sẽ cho lính đem vào sau.
Một kết quả thật bất ngờ. Toán đặc công có 4 tên với nhiệm vụ đột nhập và phá tan cái chốt án ngữ là đại đội chúng tôi để dễ dàng cho đại quân của chúng áp sát vòng vây tiếp cận thị xã. Hai tên đặc công không mặc quần áo để khỏi vướng víu, dễ xoay sở, đã bò vào tới gần phạm vi đóng quân của đại đội vì may mắn không vướng phải mìn. Chúng đang dò dẫm tìm vị trí hầm hố của chúng tôi để thảy bê-ta tấn công thì nghe hai tiếng nổ phía sau. Đó là cánh yểm trợ với một tên mang AK, một tên cầm B40. Hai tên đi sau ỷ y đã có hai tên đi trước, không ngờ lại đá phải mìn tự động ta gài nên bỏ mạng tại chỗ. Hai tên đặc công bò vào tới sát tuyến bấy giờ nghe tiếng mìn nổ có muốn quay lại cũng không kịp nữa. Trước hết, quân ta đã báo động và xuống hố sẵn sàng chiến đấu. Bò lại ra ngoài gây tiếng động chỉ làm mồi ngon cho ta tác xạ. Hơn nữa biết chỗ nào có mìn, chỗ nào không mà né bây giờ. Thôi thì liều chết xung phong. Cuối cùng thì chúng đã đền tội: sinh bắc tử nam như ý nguyện.
Đọc lá thư tìm được trong túi tên Việt Cộng, chúng tôi mới biết đây là toán đặc công có nhiệm vụ đi tìm tin tức hai tên đã chết hôm trước. Thì ra chúng cùng chung một toán trinh sát đặc công, có nhiệm vụ đi trước dò đường cho lực lượng bộ binh phía sau sắp sửa chuyển tới nay mai. Chỉ có một cái chốt án ngữ của chúng tôi, chúng chưa làm gì được mà đã bỏ 6 mạng người. Chúng đánh giá là đại đội đã gài mìn dầy đặc khắp rừng cao su quanh vị trí đóng quân. Sự thật thì với cấp đại đội chúng tôi làm gì có nhiều mìn đến độ có thể rải dầy đặc mọi chỗ. Chúng tôi chỉ gài ở những vị trí mà mình nghi ngờ địch quân có thể tiếp cận mà mình không quan sát được, tùy theo kinh nghiệm của người chỉ huy.
Sau khi báo cáo tình hình về cho tiểu đoàn, Đạt xin được tiếp tế nước một lần nữa. Đến đây thì tiểu đoàn mới cho Đạt hay sự thực. Ngay cả BCH/TĐ cũng như các đại đội trong thị xã, cũng gặp rất nhiều khó khăn vì tình hình pháo kích thường xuyên. Tiểu đoàn đồng ý để đại đội cho những toán vào thị xã lấy nước từ giếng trong các xóm nhà dân nhưng ra vào cổng nam thị xã phải có dấu hiệu nhận bạn cũng như phải thật cẩn thận khi di chuyển và coi chừng đạn pháo kích. Đạt và tôi cùng bàn bạc. Không có nước coi như chết nhưng đi lấy nước kiểu này cũng không phải là dễ dàng.
Sau khi gọi máy cho các trung đội, Đạt khuyến cáo hạn chế xử dụng nước tối đa và chỉ khi nào thật cần thiết sẽ có lệnh cho các trung đội cắt người về đại đội, tập trung thành toán đi lấy nước chung.
Một ngày lại từ từ trôi qua chậm chạp. Bóng tối bắt đầu bao phủ mọi cảnh vật. Những hạt sương đêm sa xuống bám vào những tấm Poncho trải trên mặt đất, trên nóc hầm. Những luồng gió lạnh thỉnh thoảng thổi qua, xua đi những căng thẳng ngột ngạt ban ngày. Từ trong thị xã vẫn vọng ra tiếng đạn pháo kích nổ ì ầm. Chưa biết rồi đây số phận chúng tôi sẽ ra sao. Trong trận chiến quy mô tới cấp sư đoàn như thế này, đại đội chúng tôi chỉ là con chốt thí vì sự an nguy của đại đơn vị bên trong. Muốn tồn tại, chúng tôi phải thật bình tĩnh, tỉnh táo để nhận định tình hình và tìm phương cách ứng phó tốt nhất cho mình.
Tôi thiếp đi và đang mơ màng trong giấc ngủ thì những tiếng mìn nổ kế tiếp nhau vang dội trong khu rừng cao su. Nhào xuống hầm chỉ huy thì anh lính gác cho biết anh nghe có nhiều tiếng leng keng như tiếng chuông của mấy cái xe bán cà-rem. Anh đang thắc mắc đó là cái âm thanh gì, tại sao lại có giữa đêm khuya trong rừng cao su này, thì những tiếng mìn nổ liên tiếp vang dội làm anh không còn suy nghĩ gì được nữa. Lại báo động, lại súng đạn vào vị trí chờ đợi. Chỉ có thế. Địch dám tấn công thì ta sẽ trả lễ. Bằng không chỉ yên lặng chờ đợi đến sáng rồi tính.
Ánh sáng ban mai vừa hé dạng, toán tiền tiêu đã cho lính ra lục soát. Sáu cái xác trâu đen nhùi nhũi nằm rải rác chung quanh cái chốt không xa. Trong số đó có một con trâu cổ có đeo một cái vòng lục lạc. Mỗi khi di chuyển tiếng chuông từ vòng lục lạc đeo trên cổ sẽ phát ra cái tiếng leng keng. Ngoài 6 cái xác trâu, chúng tôi không tìm thấy gì khác. Thì ra, bọn Việt Cộng đã quá ớn những trái mìn tự động gài của chúng tôi nên đã vào ấp dân gần đó lùa bầy trâu đi chết thế mạng, cũng như nhằm phá bớt số mìn bẫy của chúng tôi.
Tới giai đoạn này, Đạt và tôi đánh giá tình hình bắt đầu cận kề nguy hiểm. Vì nhu cầu chuyển quân áp sát vòng vây vào thị xã, chúng sẽ bằng mọi cách bứng cái chốt của chúng tôi. Vấn đề chỉ là sớm hay muộn.
Đúng như dự đoán. Khi mặt trời vừa tỏ rõ, bọn Việt Cộng lùa quân từ hướng tây tiến vào. Chúng ẩn mình sau những xác trâu, chĩa súng bắn vào toán tiền tiêu của đại đội. Thoạt đầu lính ta có bắn ra trả đũa. Nhưng Đạt gọi máy cho Trung đội trưởng ra lệnh không cho bắn để tiết kiệm đạn dược vì có bắn cũng chả trúng ai. Hai bên cứ thế rình nhau. Đến xế trưa, một cánh quân khác của Việt Cộng, từ hướng nam nhắm vành đai thị xã tiến tới. Chúng di chuyển trong khoảng giữa đại đội và toán tiền tiêu, cách chúng tôi chỉ chừng 100m. Phản ứng tự nhiên là lính ta dương súng bóp cò. Phải thú thật đây là lần đầu tiên tôi thấy Việt Cộng ngay trước mắt và nhiều như vậy.
Chúng lúc đầu có bắn trả. Nhưng cuối cùng cả hai phe đều ngưng không thèm tác xạ nữa. Lý do cũng đơn giản. Bọn Việt Cộng di chuyển bằng cách vọt từ gốc cao su này đến gốc cao su khác. Lính ta khi thấy bóng một tên xuất hiện, từ lúc đưa súng lên nhắm đến lúc bóp cò và khi viên đạn ra khỏi nòng thì tên Việt Cộng đã ẩn mình sau một gốc cây khác mất rồi. Chỉ còn cách bắn hú họa chận đầu thì may ra! Việt Cộng cũng vậy, chúng bắn quân ta có vị trí ẩn núp tốt trong hầm hố thì mong trúng được ai. Tóm lại, ta không bắn địch vì tiết kiệm đạn, để phòng tới giờ phút tối cần, khi địch ồ ạt xung phong tấn công, ta còn đủ đạn mà chống cự. Còn bọn Việt Cộng, mục đích trước mắt của chúng là áp sát vành đai thị xã. Chúng tạm bỏ qua cái chốt nhỏ cấp đại đội của chúng tôi để tránh thiệt hại nhân mạng. Bởi nếu thực tâm chúng muốn nhổ, muốn bứng, muốn tiêu diệt đại đội chúng tôi, chúng có thừa khả năng và quân số để áp đảo. Tất nhiên để đạt được mục đích chúng sẽ phải tổn thất vài trăm mạng là chuyện dĩ nhiên. Bỏ chúng tôi ở đây, áp sát vòng đai thị xã cũng là cách cắt đứt và cô lập chúng tôi với đơn vị lớn bên trong; chúng tôi cũng sẽ không còn khả năng kháng cự được bao lâu.
Bước qua ngày thứ năm thì có một biến chuyển mới. Hình như Bộ chỉ huy của một đơn vị cấp lớn Việt Cộng di chuyển từ hướng đồn điền Xa Trạch lên để có thể trực tiếp nắm tình hình hầu dễ điều động đám bộ binh đang bám sát vành đai thị xã. Vị trí đại đội tôi là cái gai trong mắt chúng. Đúng giữa trưa, chúng bắt đầu mở cuộc tấn công vào tuyến chúng tôi. Trước hết chúng pháo súng cối 82 và 61 ly vào vị trí đại đội đóng quân. Nhờ hầm hố chúng tôi có nắp kiên cố nên không bị chút thiệt hại nào đáng kể. Sau vài chục trái cối mở đầu, chúng cho bộ đội dàn hàng ngang xung phong. Nhờ những trái mìn tự động cũng như hàng mìn có dây điều khiển, đợt xung phong của chúng bị bẻ gẫy ngay từ những phút đầu. Từ trong phòng tuyến, chúng tôi xả ra những tràng đại liên, M16, M79 nhằm chận lại bất cứ kẻ nào dám liều mạng tiến về phía chúng tôi. Có những bóng người đổ xuống từ xa. Một hồi kèn vang lên, bọn chúng từ từ rút về phía sau. Kiểm điểm lại, chúng tôi không có chút thiệt hại nào ngoại trừ số đạn dược đã bắn ra, những trái mìn đã nổ. Lợi dụng bọn chúng thu quân, Đạt cho lính bò ra thay những trái mìn mới vào những chỗ cần thiết. Chắc chắn chúng không dễ dàng chịu thua. Chúng đang “điều nghiên” để tìm cách nhổ cỏ tụi tôi.
Đạt bốc máy gọi về tiểu đoàn báo cáo tình hình đồng thời xin bổ xung đạn dược vì nếu tình trạng này kéo dài, khả năng cầm cự của đại đội rất mỏng manh. Trong tình hình hiện nay, quân ta hoàn toàn chiến đấu dựa vào súng đạn cơ hữu còn lại được cấp phát của đơn vị. Yểm trợ bằng pháo binh ở đây không có. Mấy khẩu 105 ly pháo binh diện địa và pháo binh cơ hữu của sư đoàn đặt trong tỉnh lỵ đã bị vô hiệu. Phản pháo thì không tới vì pháo địch đặt xa ngoài tầm tác xạ của 105 ly.
Mọi sự yểm trợ chỉ còn trông nhờ vào không quân của ta và của Mỹ. Từ những phi vụ Skyraider, A37, hoặc những chuyến bay từ ngoài hàng không mẫu hạm Hoa Kỳ vào thả bom, những chiếc C130, C123 hàng đêm rải đạn đại bác 105 ly hay bắn M79 từng tràng xuống vị trí nghi ngờ có địch, đến những chiếc máy bay vận tải thả dù tiếp tế và cả những chiếc trực thăng liều lĩnh đáp xuống cổng nam để tải thương…
Đúng như dự đoán, trời vừa sập tối, bọn Việt Cộng mở cuộc tấn công đợt nhì. Lần này, chúng pháo phủ đầu thật dữ dội bằng hàng chục trái cối rải đều khắp tuyến phòng thủ. Một số hầm đã bị sạt lở, hư hại. May mắn là không có ai bị thương nhưng tinh thần binh lính thì rất căng thẳng, đang chờ đợi đợt xung phong của địch sắp bắt đầu. Đạt đã gọi về tiểu đoàn báo cáo tình hình ngay từ những trái pháo đầu tiên rót vào vị trí.
- Nam Sương, Nam Sương, đây 45 gọi. Nghe rõ trả lời.
Một giọng nói vang lên trong cái loa của máy truyền tin. Đạt vội vàng chụp lấy ống liên hợp trả lời:
- 45 đây Nam Sương. Tôi nghe 45 năm trên năm.
45 là danh hiệu truyền tin của Tư lệnh Sư Đoàn, Đại tá Lê Văn Hưng (Tháng 3/72 ông còn mang cấp Đại tá).
- Cho qua biết tình hình chỗ em thế nào?
- Trình 45, bọn nó đang đốt pháo bông mừng chúng tôi và sắp sửa cho em út đến dọn nhà.
- Tụi nó cách vị trí em bao xa?
- Chỉ chừng ba tờ về hướng nam.
- Được rồi, nói con cái yên tâm. Qua sẽ cho đốt lửa chào mừng tụi nó. Em đọc tọa độ đi.
Đạt bấm chiếc đèn pin dọi lên tấm bản đồ. Lấy cây bút chì mỡ màu đỏ, chấm cái vị trí quân địch và bắt đầu đọc:
- Trình 45, đây là tư tưởng đống đa (tọa độ), chuẩn Hồng Hà, trái 20, xuống 40. Tôi lập lại, trái 20, xuống 40.
- Qua nhận rõ. Con chim sắt chừng 10 phút nữa sẽ tới điểm. Cố quan sát thật kỹ rồi cho qua biết. Qua sẽ điều chỉnh nếu cần.
Đạt đưa ống liên hợp cho gã âm thoại viên, đứng thò đầu ra khỏi miệng hầm quan sát một lúc thì có tiếng động cơ ù ù trên đầu. Chỉ trong chốc lát, một tiếng rít như gió hú từ trên không trung ập xuống kèm theo những tiếng ầm ầm của những trái bom Napalm chạm vào mặt đất. Qua màn đêm tối mù, một cột lửa đỏ bùng lên, cách vị trí đại đội chừng nửa cây số.
- 45 đây Nam Sương gọi. 45 đây Nam Sương gọi.
- Nam Sương, 45 nghe.
- Xin điều chỉnh, về bắc 200.
- Qua nghe rồi, có gần chỗ em quá không?
- Xin 45 yên tâm, nhà chúng tôi có mái khá tốt. Cứ cho con rồng phun lửa gần lại mới thiêu chúng nó được.
- OK, qua nhận. Sẽ chỉnh ngay.
Không đầy 2 phút, chiếc máy bay lại rít lên và nhào xuống một lần nữa. Một luồng lửa đỏ chạy dài từ đông sang tây cả trăm thước, tính từ QL13 sâu vào khu rừng cao su Xa Cam, đúng ngay cái vị trí đóng quân mà chúng tôi đoán là BCH của Việt Cộng. Trong đêm tối, chúng tôi không nhận ra hình dạng chiếc máy bay. Chắc đó là một phản lực cơ oanh tạc của hạm đội Hoa Kỳ ngoài khơi bay vào yểm trợ mặt trận Bình Long.
Sau đợt thả bom lần nhì, chiếc máy bay vút lên không trung và mất tăm trong màn đêm dầy đặc.
- 45 đây Nam Sương gọi.
- Qua nghe.
- Trình 45, rồng phun lửa tuyệt đẹp. Ngay chóc luôn. Cám ơn 45 đã quan tâm em út.
- Vậy là tốt rồi. Cố gắng vận động con cái, giữ vững tinh thần. Phải giữ An Lộc bằng mọi giá hiểu không?
- Nhận rõ 45.
Cuộc điện đàm chấm dứt. Cuộc tấn công đại đội đang chờ đợi không diễn ra. Đạt chờ thêm nửa tiếng nữa không thấy động tĩnh gì mới cho chấm dứt báo động. Nửa đêm, trời bỗng nổi cơn giông. Gió thổi tứ phía và trên không những ánh chớp lóe lên liên tục kèm theo những tiếng sấm gầm vang dội khắp khu rừng cao su mênh mông. Không ai bảo ai, chúng tôi trải những tấm Poncho dài trên mặt đất chuẩn bị hứng những giọt nước trời ban. Nước với chúng tôi lúc này vô cùng quý giá. Con người có thể nhịn ăn năm ba ngày nhưng không thể thiếu nước quá một ngày. Qua màn đêm đen thẳm, chúng tôi không thể thấy những đám mây dầy đặc kéo tới lúc nào nhưng những hạt mưa đang bắt đầu trút xuống. Những giọt mưa xuyên qua lớp lá cây cao su trên vị trí đóng quân, rớt xuống đất, xuống những tấm Poncho đám lính đang trải trên miệng hầm, trên những hố trũng... Cả đại đội, tuy âm thầm nhưng gần như ai cũng tỉnh táo hẳn lên. Lính tráng rất lẹ làng, trong bóng đêm, bò sát tới những điểm nước trời cho, múc vội những ca nước trút nhanh vào những bi-đông, những cái bình mủ đựng nước đã cạn queo mấy ngày nay, không quên tự thưởng cho mình những ngụm nước mưa mát rượi sau những ngày nhịn khát vì dè xẻn, tiết kiệm nước theo lệnh Đạt. Trận mưa kéo dài không lâu vì cơn giông mạnh đã đuổi đi những đám mây vần vũ. Cũng tạm đủ nước cho chúng tôi trong vài ngày không phải lo lắng.
Buổi sáng ngày thứ sáu đã bắt đầu hé dạng. Cái tiểu đội chốt cách vị trí đại đội hơn trăm mét về hướng nam, tối hôm qua, trước khi điều chỉnh máy bay thả bom Napalm, Đạt vì an toàn đã cho rút về. Bây giờ, chúng tôi chỉ còn quan sát địch từ ngay vị trí phòng thủ của đại đội. Tầm quan sát trong rừng cao su thường rất hạn chế. Xa xa, chỗ dội bom hôm qua, chúng tôi chỉ nhìn thấy những thân cây cao su cháy xám đen, trụi lá. Khúc này, ánh sáng từ bầu trời không bị lá cây cao su che phủ nên rọi xuống mặt đất khiến khu rừng như sáng hẳn ra. Những khúc rừng còn lại, càng về xa càng mờ mờ u ám. Bọn Việt Cộng có lẽ còn sớm cũng chưa thấy động tịnh. Các trung đội hỏi xin khói lửa nấu ăn. Đạt vẫn một mực gạo sấy nước lạnh. Chúng tôi không sợ lộ điểm vì nấu nướng khói bay lên. Vị trí chúng tôi địch đã quá rõ. Không cho nấu nướng chỉ vì Đạt muốn mọi người tập trung quan sát đề phòng vì địch đang bám sát chung quanh. Chúng đang rình rập ta sơ hở để đột kích bất ngờ.
Qua cái khoảng trống chỗ đêm qua máy bay thả bom, chúng tôi không thấy bóng dáng tên Việt Cộng nào di chuyển qua lại. Khác hẳn với cảnh buổi chiều hôm trước khi chúng chuẩn bị tấn công xóa sổ đại đội tôi, khu rừng bây giờ hoàn toàn im ả. Có lẽ đợt bom bất ngờ tối qua đã gây thiệt hại cho chúng không nhỏ. Đạt và tôi trao đổi tình hình và cũng cảm thấy nhẹ thở phần nào. Chưa được bao lâu, trung đội tiền tiêu gọi máy về cho biết phát hiện địch đang di chuyển ngang qua vị trí bằng cách chạy nhanh qua những gốc cao su để áp sáp vào vòng đai thị xã. Từ vị trí chúng tôi nhìn ra, chúng tôi cũng nhìn thấy những tên Việt Cộng đang lúp xúp chạy băng qua những gốc cao su. Trên vai, chúng mang những hòm gỗ. Có lẽ đó là đạn dược hay đồ tiếp liệu dùng cho cuộc bao vây. Đạt không cho phép lính tác xạ để tiết kiệm đạn, trừ khi chúng tấn công trực diện vào tuyến. Cứ thế, mạnh ta ta ngó, mạnh địch địch đi. Tuy chúng không có ý định tấn công lúc này nhưng chúng tôi hiểu, chúng đang rình rập chúng tôi thật kỹ. Chúng đặt những cái chốt bám sát chúng tôi; có những tên canh phòng, leo lên những nhánh cây cao su quan sát mọi hoạt động của đại đội chúng tôi từ xa. Chỉ cần sơ sảy, lơ là là chúng ập tới tấn công ngay. Do đó, tuy tình hình tạm ổn nhưng chúng tôi lúc nào cũng căng thẳng tinh thần.
Nguyên một ngày một đêm trôi qua trong yên tĩnh. Sáng ngày thứ bẩy bắt đầu với một không khí u ám lạnh lẽo. Cả tuần nay, chúng tôi phải bỏ đi cái thói quen nằm võng. Hàng đêm, chúng tôi trải Poncho nằm dài trên mặt đất sát cạnh miệng hầm. Có động tĩnh là phóng ngay xuống hố để phản ứng cho kịp. Thình lình từ tuyến phòng thủ từ hướng nam có tiếng lao xao.
- Có Việt Cộng đang chạy về phía mình.
Tiếng một anh lính la lên hốt hoảng. Mọi người nhào xuống hố cá nhân. Đang đứng cạnh hầm chỉ huy của đại đội, tôi đưa mắt nhìn về phía có bóng người đang chạy lại. Một tràng đạn M16 nổ vang. Tôi thấy 2 bóng người chạy lại gần hơn. Người chạy trước dơ hai tay cao trên đầu, không có mang vũ khí, bóng người sau đó chừng chục thước không rõ lắm.
- Đừng bắn...
Bóng người chạy phía trước la lớn. Cũng may cho hắn, tràng M16 mà anh lính bắn vì phản ứng quá gấp rút nên không chính xác. Cái bóng ngã bổ nhào xuống mặt đất trong vòng đai đóng quân đại đội.
Mọi việc diễn ra quá nhanh chóng. “Không lý mấy tên Việt Cộng này chạy về phía ta xin chiêu hồi?”. Một ý nghĩ thoáng qua đầu tôi. Tôi chưa kịp thốt ra cái lệnh “Không được bắn” thì một tiếng nổ “Uỳnh” vang lên ngay hướng bóng người thứ nhì đang chạy vào. Một đám khói đen bốc lên kèm theo những tiếng cành cây gãy rơi lộp độp trên mặt đất. Tên này xui xẻo, đá ngay trái mìn Claymore tự động của chúng tôi. Tiếng rên la trong đau đớn vang lên thê thảm giữa rừng cao su. Đúng lúc này, cái người chạy được vào tới tuyến chúng tôi ngồi bật dậy. Anh ta cho biết anh là lính địa phương quân thuộc Chi khu Chơn Thành. Trung đội anh nằm tiền đồn và bị Việt Cộng tấn công tan tác. Anh và một đồng đội thoát được, tìm cách chạy về thị xã. Gần tới vị trí đại đội tôi, anh bị một toán Việt Cộng phát hiện và truy đuổi. Nghe anh kể, chúng tôi mới nhận ra cái phù hiệu con rùa ĐPQ trên vai áo của anh. Trong cái khu rừng cao su đất đỏ này, màu xanh của áo trận giữa ta và địch khó có thể phân biệt vì chúng đã trộn lẫn thành mầu đỏ đất. Quân ta bắn quân bạn! Anh lính may mắn thoát chết thình lình vùng dậy, nhào người định chạy ra ngoài tuyến, nơi người bạn anh đang nằm rên la trên mặt đất. Mấy người lính ôm chặt anh lại.
-Không ra được đâu. Tụi Vi Xi nằm đầy ngoài đó. Anh chưa ra tới nơi, chúng nó đã “dzớt” anh rồi. Vả lại, bạn anh bị mìn kiểu đó, có đem vào cũng không cứu được đâu!
Anh lính ĐPQ bật lên tiếng khóc hu hu. Anh khóc vì mình thoát chết trong cảnh éo le. Anh còn sống mà phải chứng kiến bạn mình nằm đó chờ chết, rên la trong đau đớn tuyệt vọng nhưng anh và mọi người đều bất lực.
Chờ anh ta nguôi ngoai một chút, Đạt kêu anh ta lại và hỏi thăm tình hình trên đường. Anh cho biết, để vào được tới đây, anh và người bạn đã phải thoát qua nhiều lớp đóng quân của Việt Cộng. Anh cho biết, chúng nó quân số rất đông, chỗ nào cũng có. Đạt bốc máy báo về tiểu đoàn. Cơn mưa đêm ngắn ngủi vừa qua cũng chỉ đem lại cho chúng tôi ít nước vừa đủ trong hai ngày tằn tiện. Như vậy, chúng tôi đã bị chúng bao vây chặt. Không cần tấn công, chúng tôi cũng sẽ trở thành bất khiển dụng trong nay mai. Không thể chết trong tình trạng bị cô lập này. Tôi bàn với Đạt. Cuối cùng, Đạt lên máy gọi về xin gặp tiểu đoàn trưởng trên tần số hẹn.
Với tình thế này, trong khả năng của mình, tiểu đoàn cũng chẳng có cách nào giúp đại đội tôi được. Nằm yên tại chỗ, chắc chắn tụi tôi sẽ tiêu. Sau một lúc đắn đo, tiểu đoàn trưởng đồng ý cho chúng tôi rút vào thị xã, kèm theo một lệnh. Trước khi rút, phải phá bỏ mọi hầm hố có nắp, vì nếu có lệnh bắt chiếm lại vị trí đã bỏ mà hầm hố còn nguyên vẹn thì sự tổn thất sẽ khó có thể lường được. Lệnh được truyền xuống cho các trung đội. Kế hoạch là trung đội tiền tiêu bắt đầu rút trước và băng qua vị trí đại đội khoảng 100m thì dừng lại, bố trí yểm trợ cho đại đội rút. Cứ thế rút theo đội hình nấc thang. Một trung đội được lệnh nằm lại chịu rút sau cùng, cho kéo sẵn hết mấy ống M72. Trước khi rút sẽ phóng hết số M72 đó về phía bọn Việt Cộng bám theo, cũng như có bao nhiêu mìn Claymore giăng ngoài tuyến đều bấm cho nổ hết.
Đúng theo kế hoạch, khi những hầm hố vừa được phá bỏ, trung đội tiền tiêu cho một tiểu đội chịu lại, phóng những trái M72 về phía địch, bấm những trái mìn dây căng sẵn ngoài tuyến rồi vừa nổ súng cá nhân vừa rút. Bọn Việt Cộng quả thật bám sát và canh phòng chúng tôi rất kỹ. Thấy chúng tôi bắt đầu loay hoay phá hủy hầm hố, chúng đoán ngay chúng tôi đang chuẩn bị rút. Đang chuyển vũ khí đạn dược, chúng cho lệnh bám sát đuổi theo. Những trái đạn cối 82, 61 ly bắt đầu rót vào vị trí chúng tôi. Một trái rớt ngay trên nắp cái hầm BC đại đội mà lính tôi vừa mới phá. Trái đạn trúng một khúc cao su, nổ tạt miểng về phía bên kia. Một làn hơi nóng rát, phả trùm vào mặt tôi. Cái sức ép của thuốc nổ đẩy tôi ngã ngửa xuống mặt đất. Loạng choạng mất vài giây, tôi lồm cồm đứng dậy. Không có thì giờ để quan sát thêm, chỉ biết là mình may mắn vì dù trái cối nổ sát cạnh nhưng tôi lại ở phía sau tầm sát hại. Những cái miểng cối khi nổ đều bắn về phía trước. Tôi chỉ bị sức dội và hơi nóng đẩy té xuống đất mà thôi. Trung đội tiền tiêu đã rút qua khỏi vị trí đại đội. Những tiếng hô xung phong vang dội khắp khu rừng cao su. Nhưng tiếng đạn bay chíu chíu trên không hay chạm vào lá cây cao su phát ra những âm thanh tạch tạch. Những trái B40, B41 chạm vào những thân cao su bùng ra những tiếng nổ ầm ầm kèm theo những cuộn khói đen khiến khung cảnh rút quân như lẫn trong hỗn loạn.
Trung đội nằm chịu lại bắt đầu phóng ra những trái M72 dương sẵn về hướng bọn giặc đang nhào tới. Những con cóc mìn được bóp khai hỏa, những tiếng Claymore nổ vang dội, những bóng người đổ xuống. Những bóng đen khác vẫn cứ tràn lên, những tràng đại liên M60, những trái M79, những loạt đạn M16 đồng loạt vang lên. Trước hỏa lực quá khủng khiếp, bọn người đang truy đuổi phải khựng lại, nằm bẹp sát mặt đất. Lợi dụng cơ hội này, trung đội sau cùng nhớm lên và rút thật lẹ theo hướng ra QL13. Phía sau không xa, toán đi trước cũng đã cho người nằm lại để yểm trợ cho trung đội cuối cùng này rút qua mặt. Chúng tôi cứ thế kéo ra tới đường nhựa của QL13. Gần tới quốc lộ bọn Việt Cộng không còn bám theo nữa. Chỉ có những trái cối pháo theo hú họa. Chúng tôi kiểm điểm lại, thật là may mắn, chỉ có một Hạ sĩ bị thương ở cánh tay do miểng đạn súng cối. Phần đám Việt Cộng, có lẽ qua đợt truy kích vừa rồi số tổn thất của chúng không phải là nhỏ. Chúng đã phạm một lỗi lầm lớn. Chúng ép chúng tôi vào con đường tìm đường sống qua kẽ chết. Bằng mọi giá chúng tôi phải vùng lên, phải liều. Chúng tôi liều có kế hoạch, đúng bài bản và nhất là trong tinh thần kỷ luật cao độ. Nhờ đó chúng tôi rút lui an toàn. Những nguy hiểm kề cận đã khiến mọi người quên đi mọi mệt nhọc trên đường rút lui. Giờ có được bình yên, mọi người mới thấy đuối sức. Còn cả cây số nữa mới vào tới phạm vi tỉnh lỵ. Không ai bảo ai, mọi người đều hối hả rảo bước trên mặt đường quốc lộ.
Vừa qua khỏi lớp hàng rào chướng ngại vật ở cổng nam An Lộc, chúng tôi đã nghe thấy những tiếng hú của những trái đạn pháo đang rót vào thị xã. Bất kể ngày đêm, từ các hướng bắc, tây bắc, tây... chúng bắn vào đây đủ loại đạn đại bác 130 ly, hỏa tiễn 122 ly... Chúng thỉnh thoảng chêm vào những trái đạn xuyên phá hầm. Loại đạn này chạm mục tiêu không nổ. Với sức xoáy của trái đạn được phóng từ một khoảng cách xa cả vài chục cây số, tới mục tiêu, chạm mặt đất chúng khoét những hố sâu hoắm. Khó có hầm hố nào chịu nổi mà không sập nếu những trái đạn loại này rớt ngay hoặc gần sát. Lúc đầu, chúng tôi ngồi trong hầm nghe tiếng đạn rớt và cảm thấy đất rung chuyển nhưng không có tiếng nổ, chúng tôi tưởng đạn lép. Đến khi thấy sự tác hại của chúng mới hiểu ra.
Vào được tới nơi an toàn, không đợi lệnh lạc, cả đám lính cởi ba-lô, bỏ súng đạn một bên nằm dài trên mặt đất thở dốc để lấy lại sức, mặc cho những trái đạn pháo muốn hú, muốn rơi chỗ nào cũng mặc. Họ quá mệt, không còn sức để né tránh nữa. Mặc cho lính tráng nghỉ ngơi một lúc, Đạt liên lạc với tiểu đoàn rồi cho lệnh di chuyển đến vị trí đóng quân. Trung đội đầu rẽ trái, cặp theo sân vận động thị xã đi về hướng tây. Cả đại đội đang hàng dọc cất bước, một tiếng bung binh từ xa vang lên. Chỉ chốc lát, tiếng trái đạn pháo rít ngay trên đầu rồi chỉ kịp nghe xè... xè.. xẹt và tiếp theo là tiềng uỳnh vang dội cách hàng quân không đầy vài thước. Phản ứng tự nhiên, đám lính với ba-lô còn đang trên lưng, tay vẫn ôm súng, phóng vội ép sát thân mình vào mặt đất để tránh những miểng pháo đang văng ra tứ phía. Thì ra từ khi kéo về Bình Long tới giờ, chúng tôi mới chính thức nếm mùi pháo kích. Cả tuần lễ năm ngoài rừng cao su, chúng tôi chỉ nếm đạn pháo của súng cối mà thôi. Cứ thế đại đội lại tiếp tục di chuyển đến vị trí đóng quân. Chúng tôi được bố trí phòng thủ một phần của mặt nam của thị xã, cách cổng nam chừng hơn trăm thước và trải dài về hướng tây, bắt tay với đại đội 8 tại đồn Cảnh sát Dã chiến của tỉnh. Trước mặt chúng tôi là con lộ đá chạy dài về hướng tây dẫn vào căn cứ Lam Sơn, nơi đặt BCH/TĐ. Phía ngoài con lộ trải đá là những lớp hàng rào kẽm gai, những lớp concertina rải bùng nhùng xen lẫn bên trên, bên dưới là những trái mìn gài đủ loại: chống người, chống chiến xa... Ngoài nữa là một giao thông hào khá rộng và sâu được xe công binh đào từ lâu nên cỏ mọc um tùm che kín những chướng ngại vật dưới đáy, mìn bẫy v.v... nhằm ngăn chận chiến xa địch thâm nhập vào thị xã. Bên kia cái giao thông hào là một khoảng đất trống chừng vài trăm thước, trước kia đã được khai quang để các đơn vị phòng thủ bên trong có thể quan sát dễ dàng mọi sự tiến quân của địch vào thị xã. Ngoài cái vùng đất trống đã bị khai quang đó là rừng cao su bạt ngàn của đồn điền Xa Cam mà đại đội tôi vừa từ đó rút về đây. Khu đóng quân của chúng tôi thuộc phạm vi quân sự nằm cạnh đồn Cảnh sát Dã chiến nên không có dân cư ngụ. Đạt cho lính đào hầm hố dài và sát theo con lộ trải đá. BC đại đội đóng phía sau một căn nhà, có lẽ là của gia đình mấy anh cảnh sát đồn bên cạnh. Họ đã bỏ đi đâu và hồi nào không biết. Bên hông nhà có một giếng nước khá sâu nhưng lúc nào cũng có nước. Cả đại đội cảm thấy thật hạnh phúc vì không phải đi xa lấy nước, nhất là trong hoản cảnh này. Thấy phía sau bức tường nhà có sẵn một cái hầm nên chúng tôi chọn để đặt BC đại đội. Mấy tên đệ tử chỉ cần kiếm thêm ít cây đà gỗ và một số vật dụng lượm lặt dựng phía bên trên là chúng tôi có một cái hầm với hai lớp nóc khá vững chắc. Nó đã giúp chúng tôi, cả gần chục mạng chui xuống, ép sát vào nhau để thoát qua nhiều đợt pháo dữ dội. Cũng may, đã không có trái nào rơi đúng miệng hầm! Chúng tôi đã giữ vị trí này cho tới rạng sáng 14 tháng 4 năm 1972.
Trong suốt thời gian hơn một tháng trời tại đây, bọn Việt Cộng từ ngoài khu rừng cao su thường dùng dàn thun bắn những trái lựu đạn mini, khi thì lựu đạn nổ, khi thì lựu đạn hơi cay hoặc câu vào những trái B40, B41 thậm chí cả M79 nữa vào phòng tuyến chúng tôi. Thỉnh thoảng chúng tôi cũng trả lễ bằng những tràng đại liên M60, những trái M79. Tuyệt nhiên không một phát súng cá nhân AK hay M16. Súng cá nhân trong tình huống này gần như vô hiệu quả nên cả hai bên đều không xài tới. Một buổi sáng sớm, Đạt cầm cái xẻng ra phía sau nhà làm chuyện vệ sinh, từ ngoài rừng cao su, bọn Vẹm phóng vào một quả M79. Sau tiếng nổ, tôi thấy Đạt chạy vào, từ trên miệng hầm thò mặt vào nói với tôi:
- Tao bị thương rồi.
Chỉ có thế. Tôi chưa kịp nhìn và hỏi thăm xem vết thương thế nào thì Đạt đã khuất dạng. Nửa tiếng sau, TĐ trưởng gọi máy xuống muốn gặp ĐĐ trưởng. Tôi báo cáo sự việc Đạt bị thương. Cuối cùng thì tiểu đoàn cũng được tin Đạt đã chạy ra cổng nam và leo lên trực thăng tản thương về Lai Khê rồi. Tôi được lệnh xử lý chức vụ ĐĐ trưởng.
Vì pháo binh ta không thể xử dụng, mọi yểm trợ cho bộ binh của ta đều nhờ vào không quân. Từ những phi vụ thả dù tiếp tế, trực thăng tản thương đến máy bay C123, C130 hàng đêm rải đại bác 105 ly, bắn M79 vào những vị trí nghi ngờ có địch, B52 thả bom cỡ nhỏ, những phản lực cơ oanh tạc từ Hạm đội Hoa Kỳ ngoài khơi bay vào, những phi tuần A37, Skyraiders của Không quân Việt Nam... tất cả đã tỏ ra rất hữu hiệu giúp quân ta giữ vững tinh thần chiến đấu và cuối cùng đã bẻ gãy mọi đợt tấn công của chúng vào thị xã An Lộc.
Chỉ trong vòng 3 tháng từ khi bọn Việt Cộng mở màn cuộc tấn công vào tỉnh lỵ nhỏ bé này, không một mái nhà nào trong thị trấn này còn nguyên vẹn. Số lượng đạn chúng pháo vào An Lộc không biết bao nhiêu mà kể. Nội trong đêm 13/4/1972, chúng bắt đầu pháo từ 6 giờ chiều đến 6 giờ sáng ngày hôm sau, 12 tiếng liên tục, hơn 10.000 trái đạn!
Trong lúc mọi người gần như ù tai vì những tiếng nổ của đủ loại đạn pháo thì chúng cho chiến xa T54, PT76 ồ ạt băng giao thông hào, ủi sập các chướng ngại vật, cán qua hàng rào phòng thủ tràn vào tỉnh lỵ. Khi nghe tiếng động cơ gầm rú, tiếng xích xe cán rầm rập trên con lộ đá, tôi leo ra khỏi hầm để quan sát. Chỉ có mấy chiếc xe tăng đang chạy về hướng chúng tôi trên con lộ đá từ hướng tây, không thấy bóng một tên bộ đội nào phía sau cả. Tôi bốc máy ra lệnh cho các trung đội cho con cái ra khỏi hầm hố, tìm cách bám theo và tiêu diệt xe tăng. Loại súng duy nhất có thể xử dụng là những ống phóng M72 mà chúng tôi thường dùng để phá hầm, phá công sự phòng thủ. Chả biết chúng có công hiệu để diệt xe tăng với lớp thép dày hay không nữa. Tình thế khẩn cấp trước mắt, không còn cách nào khác hơn. Chiếc T54 đang lù lù tiến sát, nó cán sập một căn hầm mà lính đại đội vừa ra khỏi. Một anh lính bạo dạn kéo ống M72 nhắm pháo tháp bóp cò. Một tiếng nổ lớn, một luồng khói trắng tuôn ra đằng sau ống phóng, trái đạn bay về phía trước chạm một bên cái pháo tháp rồi bay mất tiêu! Cái xe không xuy xuyển vẫn tiếp tục ủi tới. Vì không có bộ đội tùng thiết, mấy tên trên xe tăng núp kín trong thùng xe không thấy ló mặt ra ngoài. Một anh lính khác, kéo cây M72 chạy vòng qua hông nhắm vào bánh xích bóp cò. Lại một tiếng nổ vang dội. Chiếc T54 khựng lại một chút rồi chồm lên lao mạnh về phía trước ủi sập bức tường nhà mà phía sau là cái hầm của BC đại đội. Cái nòng dài của khẩu đại bác 100 ly trên pháo tháp xuyên thủng qua lớp tường bên kia gác cái nòng dài trên nóc cái hầm mà tôi vừa leo lên chưa được bao lâu. Chiếc xe tăng nằm kẹt tại chỗ nhưng tiếng máy càng rú dữ tợn hơn. Coi bộ M72 không phải là vũ khí diệt tăng hiệu quả. Một anh lính khác lợi dụng xe đang kẹt, leo lên tận pháo tháp đang tìm chỗ trống thẩy lựu đạn vào thì thình lình nắp pháo tháp có tiếng lịch kịch từ bên trong. Anh lính né sang một bên, chĩa súng và quan sát chờ đợi. Cái nắp pháo tháo được từ từ nâng lên từ bên trong. Hai bàn tay rồi cánh tay, cái đầu và cuối cùng một anh bộ đội run rẩy chui lên khỏi lòng xe. Anh ta cho biết còn một tên nữa. Sau đó tên này cũng leo ra khỏi xe. Cả hai tên bộ đội còn rất trẻ, chưa tới 20, người trắng trẻo nhưng nước da tái xanh. Chúng cho biết đúng ra tổ xe tăng có 3 người tất cả. Tên thứ ba mới bị miểng bom A37 của ta thả trúng thiệt mạng cách đây vài hôm. Chúng chưa được bổ xung vì quân số thiếu hụt. Qua tìm hiểu, chúng tôi mới biết thiết kế trên xe tăng của chúng hoàn toàn trái ngược với ta. Bàn đạp ga khi buông ra có nghĩa là cho xe chạy tốc độ mạnh nhất. Hèn chi, khi trái M72 bắn vào hông chiếc T54, chúng ngồi trong thùng xe, tuy không xây xát nhưng sức nổ gây chấn động mạnh làm cả hai ngất xỉu. Vì thế tên lái xe không còn điều khiển được chân ga nên cái xe cứ thế nhào về phía trước. Nó chỉ dừng lại khi chạm vào bức tường nhà. Một trung đội khác, gọi máy báo về, đã diệt được một T54 khác. Chiếc này đang loay hoay bò lên từ cái giao thông hào chống chiến xa ngay phía trước tuyến phòng thủ đại đội tôi. Cái hào khá sâu nên khi leo lên được khỏi thì chường ngay cái bụng lên trên không. Chưa kịp hạ bánh xích bám lên mặt con lộ đá nó đã lãnh nguyên hai trái M72, lật ngược về phía sau rớt xuống nằm gọn dưới đáy giao thông hào. Đợt tiến công bằng xe tăng của Việt Cộng vào tuyến của tiểu đoàn tôi đã bị bẻ gãy.
Sau khi báo cáo kết quả trận đánh về tiểu đoàn tôi xin Ban 2 cho người xuống dẫn độ 2 tên tù binh đi. Cũng qua hệ thống liên lạc truyền tin, có một tin không vui. Tiểu đoàn bạn bên cánh phải, TĐ3/7, vì địa thế phòng thủ ở hướng tây không mấy thuận lợi, đã bị tràn ngập bởi chiến xa Việt Cộng và coi như tan hàng vì mất liên lạc hoàn toàn. Thật bàng hoàng. Người bạn cùng khóa với tôi, Tôn Thất Nguyện, và Niên trưởng Lê Bắc Việt, người tôi từng ngưỡng mộ lúc mới ra trường bây giờ ra sao? Còn sống hay đã chết? Đành rằng, với những người lính ở đơn vị tác chiến như chúng tôi, chuyện chết chóc làm sao tránh khỏi. Nhưng việc xảy ra quá đột ngột. Cùng một lúc mất đi hai người đồng đội, hai người anh em đồng môn quả thật không thể không đau đớn, xót xa.
Sau khi kiểm tra lại phòng tuyến, tôi chỉ cho các trung đội trưởng những việc cần chỉnh đốn lại. Ăn cơm trưa vừa xong có lệnh gọi tôi về tiểu đoàn họp. Thường thì với tình hình pháo kích liên tục ở đây, ít khi tiểu đoàn kêu các ĐĐ trưởng về họp. Chắc hẳn đây là chuyện quan trọng. Cũng có thể vì bảo mật. Qua việc TĐ3/7 tan hàng, một số máy móc truyền tin có thể đã bị địch lấy dùng để theo dõi mọi điều động vô tuyến của ta không chừng. Đúng như tôi dự đoán, tiểu đoàn gọi các ĐĐ trưởng về họp để trao tận tay một bản đặc lệnh truyền tin mới. Tất cả tần số, danh xưng của các đơn vị đều thay đổi. Một đại đội sẽ được chỉ định đi trám lại phòng tuyến bị chọc thủng tối qua của TĐ3/7 cùng với một số đơn vị bạn nữa. Không đợi tiểu đoàn cắt cử, tôi xin tình nguyện. Tôi thừa hiểu đây là một nhiệm vụ khá khó khăn. Chúng tôi sẽ phải luồn lách thật cẩn thận qua những khu nhà đổ nát, mò lên vị trí gần nhất nơi bọn Việt Cộng vừa lấn chiếm tối qua, trụ lại chận không cho chúng tiến thêm nữa. Chỉ cần vượt qua chừng hai con phố chúng sẽ áp sát bức tường rào phòng thủ của Tòa Hành Chánh tỉnh, mà căn hầm dưới nền nhà là nơi đặt bản doanh của BTL/SĐ.
Tôi tình nguyện vì nóng lòng muốn tìm xem tông tích hai người bạn đồng môn ra sao. Cách tốt nhất là đến tận chỗ và đây là cơ hội. Nguy hiểm đang chờ đợi phía trước là chuyện tất nhiên. Nhưng tại thành phố chiến tranh này, chả có chỗ nào là an toàn cả. Khoác lên người bộ quân phục, về đơn vị tác chiến, là sĩ quan hiện dịch, tôi đã chấp nhận cái chết có thể xảy đến bất cứ lúc nào. Chúng tôi sẽ bất chấp tất cả một khi bạn bè, đồng đội thân thương của mình đang gặp khó khăn phía trước.
Tôi trở về vị trí đóng quân của đại đội. Cho mời các trung đội trưởng vào họp, trao cho họ xấp đặc lệnh truyền tin mới, tôi truyền đạt những việc phải chuẩn bị cho một cuộc chuyển quân sắp bắt đầu. Xong xuôi, đúng 3:00 chiều ngày 14/4/1972, chúng tôi bắt đầu xuất phát.
Trung đội đầu ngược lên hướng bắc, luồn qua mấy dãy nhà đổ nát ra tới rìa sân vận động tỉnh thì rẽ trái. Băng qua một khu phố nhà cửa đổ nát, không một bóng người, rồi vượt qua một con lộ nhỏ, chúng tôi nhìn thấy căn nhà hai tầng của Tòa Hành Chánh tỉnh. Men theo hông trái của vòng đai bên ngoài, chúng tôi bọc về phía sau lưng Tòa Hành Chánh. Tôi ra lệnh cho hai trung đội đầu căng hàng ngang bắt đầu lục soát từng căn nhà đổ nát để từ từ tiến về phía trước, hướng tây. Mục tiêu của chúng tôi là Ty Chiêu Hồi tỉnh. Chờ cho hai trung đội này khuất hẳn trong khu nhà đổ nát, tôi kéo BC đại đội băng qua con đường tiến vào một khoảng sân trống phía sau một căn nhà nóc đã bay mất chỉ còn trơ lại mấy vách tường nửa vời, cố đứng gượng chịu lại sức tàn phá của đạn pháo. Những trái pháo của địch vẫn cứ thỉnh thoảng giã gạo. Chúng rớt đâu đó thây kệ. Chỉ khi nào chúng tôi nghe tiếng xè xè nghĩa là chúng sắp rơi sát cận kề, chúng tôi mới nhào nằm né tránh miểng mà thôi. Đưa cái ống nhòm đeo trên cổ lên mắt, tôi ló đầu qua khỏi bức tường đổ lưng chừng cố quan sát thật xa về hướng tiến quân. Không quá 200m, chỉ cách chỗ tôi đừng độ chừng vài khu phố, tôi phát hiện một cái nòng đại bác của chiếc T54 ló ra phía ngoài của bức tường nhà. Chiếc xe tăng ẩn kỹ sau căn nhà nhưng cái nòng súng thì quá dài nên không thể dấu hết. Tôi bốc máy hỏi vị trí hai trung đội. Họ lần lượt báo đang tiến lên nhưng rất chậm vì phát hiện có bóng dáng địch lố nhố phía trước không xa và có cả xe tăng nữa. Tôi hạ lệnh, bằng mọi cách, trước 5:00 giờ chiều phải lên đến vị trí ấn định gần địch nhất có thể. Nhà binh, hai tiếng “Hạ lệnh” nghe rất đơn giản dễ dàng. Trên thực tế, thi hành lệnh không phải dễ mà ra lệnh lại càng khó hơn. Ra lệnh mà không nắm chắc tình hình, không cân nhắc tính toán thì cầm chắc đưa quân vào chỗ chết. Thi hành lệnh là nhiều khi biết cái chết đang chờ đợi phía trước vẫn phải lao mình tiến tới. Tôi ra lệnh bằng mọi cách phải đến được vị trí đóng quân gần địch nhất trước 5:00 giờ chiều để còn kịp đào hầm hố tránh pháo cũng như có vị trí chiến đấu tốt để trụ lại chống trả nếu địch tấn công bất thần. Nếu không có vị trí vững chắc để trụ lại, để làm điểm tựa cho cuộc phản công sẽ diễn ra vào sáng ngày mai thì coi như nhiệm vụ của đại đội tôi coi như cầm chắc thất bại. Tôi đang nóng lòng tiến lên phía trước hầu có được phần nào tin tức về hai người anh em cùng trường đang lặng tiếng im hơi. Bằng mọi giá phải dành lại phần đất đã lọt vào tay địch. Phần BC đại đội, tôi lựa một căn nhà có một căn hầm của dân đào sẵn từ trước, cho mấy chú đệ tử chỉnh đốn thêm một lớp hầm nổi bên trên nóc nữa để phòng xa. Căn hầm không rộng lắm, chỉ đủ chỗ cho tôi trải tấm Poncho làm chỗ nằm qua đêm. Anh lính mang đồ cho tôi, một lao công đào binh, vóc dáng khỏe mạnh vừa được phục hồi và bổ xung về đại đội ít ngày trước cuộc hành quân bắt đầu, ngồi bó gối dựa vách tường ngủ vì không đủ chỗ duỗi chân. Bên cạnh, cũng ngủ ngồi là một anh lính truyền tin dự phòng thứ ba. Hai âm thoại viên chính, căng hai cái võng sát nóc hầm ngay phía trên chỗ tôi nằm. Hai cái máy PRC25 đặt dưới đất cạnh chỗ tôi nằm để tiện cho tôi khi cần liên lạc.
Trung đội vũ khí nặng, toán Quân Báo và mấy y tá đại đội tìm những căn nhà kế cận làm hầm hố trú ẩn qua đêm. Trung đội còn lại là lực lượng trừ bị đóng ở khu phố phía sau không xa BC đại đội bao nhiêu.
Sau khi các trung đội báo cáo đã ổn định vị trí, tôi dặn dò các trung đội trưởng phải đích thân kiểm soát lại vì trong tình thế này, tôi không thể làm được chuyện đó. Hồi trưa, trước khi chuyển quân, tôi đã cho lệnh nấu nướng sẵn. Bây giờ chỉ có ăn chứ không được nổi khói lửa vì sẽ lộ vị trí. Xong xuôi, tôi chấm tọa độ các vị trí đóng quân và gửi về ban 3 tiểu đoàn. Qua một ngày đầy căng thẳng mệt nhọc, tôi đặt lưng trên tấm poncho và thiếp vào giấc ngủ lúc nào không biết mặc cho tiếng xè xè, khẹt khẹt từ hai cái máy truyền tin bên cạnh cứ liên tục phát ra, mặc cho những trái đại pháo 130 hay hỏa tiễn 122 ly cứ thỉnh thoảng bay hú trên vòm trời và chạm nổ đâu đó trong thị xã.
__________________
LOÀI KHỈ TRỞ THÀNH LOÀI NGƯỜI MẤT TRIỆU NĂM
LOÀI NGƯỜI MUỐN TRỞ THÀNH LOÀI KHỈ TRƯỜNG SƠN HÃY GIA NHẬP ĐẢNG CS VN
HÃy CÓ Ý THỨC HỆ TỰ HỎI " TÔI ĐÃ LÀM GÌ CHO TỔ QUỐC , ĐỪNG HỎI TỔ QUỐC ĐÃ LÀM GÌ CHO TÔI
The Following 5 Users Say Thank You to hoanglan22 For This Useful Post:
Khoảng 5:00 giờ sáng, một tiếng nổ long trời ngay trên nóc hầm khiến tôi giật mình thức dậy. Hai cái thân người trên hai cái võng rớt gần như cùng một lúc xuống hai bên đùi tôi. Hai anh lính âm thoại viên lồm cồm ngồi dậy, không nói một câu, bò lẹ ra khỏi hầm. Trong bóng đêm còn mù mịt, tôi vẫn cảm giác được mùi thuốc nổ lẫn với cát bụi đang lùa vào mũi, vào họng tôi qua mọi kẽ hở. Tôi ngồi dậy, cố định thần xem chuyện gì đã xảy ra thì từ bên trái, tiếng anh lính mang đồ cho tôi vang lên, trong rên rỉ đau đớn:
- Tôi bị thương rồi ông thầy ơi!
Phản ứng tự nhiên, tôi buột miệng:
- Cố gắng chịu đựng một chút, để tao tính cho.
Một cảm giác ê ê, không đau lắm xuất phát từ bàn chân trái của tôi. “Chết mẹ, không lý mình bị thương?”. Đầu thì suy nghĩ trong khi tôi đưa bàn tay phải lần xuống chỗ có cái cảm giác ê ê nhoi nhói đó. Bàn tay tôi rờ thấy cái vớ nhà binh tôi mang trong khi ngủ đã bay mất một mảng. Những ngón tay tôi đang lướt qua những phần thịt bầy nhầy của gót chân bên trái lẫn trong dòng máu đang ứa tuôn ra. Một làn hơi lạnh từ gáy tôi chạy dài xuống sống lưng. “Tiêu rồi”. Bị thương chân trong cuộc chiến này sẽ không khá nổi. Không thuốc men cầm máu, không trụ sinh, khó tranh dành lên máy bay tản thương được...Nhiều anh lính đã phải cưa chân vài lần vì nhiễm trùng. Nhưng thôi, dẹp qua cái ý nghĩ đó trong lúc này. Bình tĩnh lại, tôi rà lại khắp thân mình từ trên xuống, không có chỗ nào khác đau đớn nữa. Chỉ có cái gót chân trái mà thôi. Tôi với chiếc giầy vải Mỹ thọc bàn chân phải vào. Khoác cái áo giáp vào người và đội chiếc nón sắt lên đầu xong, tôi mò cái giây ba chạc, mở bao súng lấy khẩu Colt 45 nhét vào bụng. Tôi cũng không quên lấy cái túi có cái mặt nạ phòng hơi độc choàng vào cổ. Xong xuôi, quay sang phía anh lính, lúc này coi bộ cơn đau hành hạ không chịu nổi nên tiếng rên la càng lúc càng bi thảm hơn, tôi dặn:
- Mày ngồi yên đây, tao bò sang hầm y tá kêu tụi nó qua băng bó cho mày. Cố gắng lên nghe.
Nói xong tôi định chống tay bò ra khỏi hầm. Không biết nghĩ sao, tôi lại tiếc chiếc giày còn lại. Chân trái bị thương, không thể mang giày nhưng bỏ thì phí quá. Tôi bèn xỏ bàn tay trái vào trong chiếc giày còn lại và từ từ bò ra phía cửa hầm.
Ra tới miệng hầm, một tay tôi rướn lên bám vào thanh đà gỗ trên nóc và kéo người đứng dậy. Đưa mắt quan sát chung quanh, trên nắp hầm, xác anh hạ sĩ gác nằm chết gục tại chỗ máu đổ thành vũng quanh phần cổ đã bị miểng pháo chém đứt lìa. Cái đầu không biết đã bị thổi văng mất nơi đâu. Nhìn lên bức tường nhà, tôi nhận định được, trái pháo rớt ngay bức tường, phá bay phần trên, những cái miểng vì thế tạt ngược lại xuống phía miệng hầm. Anh Hạ sĩ ngồi gác trên nóc hầm lãnh đủ chết tại chỗ. Những cái miểng còn lại chia nhau chui sâu xuống hầm. Hai cái miểng chém ngọt đứt hai sợi dây võng của hai anh truyền tin khiến họ rớt trên người tôi làm họ hoảng hồn bỏ chạy mất tiêu sau đó. Anh lính phụ máy không biết có bị gì không mà không thấy tăm dạng. Một cái miểng đã làm anh lính mang đồ cho tôi đang rên rỉ trong căn hầm. Phần tôi thì cái gót chân trái đang nát bấy. Quan sát tìm hiểu cũng đã đủ, tôi nhắm hướng hầm mấy tên y tá bò tới. Chưa đầy vài phút tôi đã tới miệng hầm. Một y tá đại đội vừa ngó thấy bóng tôi liền lật đật chạy tới đỡ tôi đứng dậy dìu vào trong hầm. Cái lưng tôi vừa lọt qua khỏi cửa hầm thì hai tiếng “Vu..u..út”, “Uỳnh” kế tiếp nhau rất nhanh. Cái bức tường nhà đổ ập xuống phía sau lưng tôi lấp kín miệng hầm. Chờ cho cát bụi lắng xuống, hai anh lính y tá rọi đèn pin và lau chùi cái chân và bắt đầu băng bó cho tôi.
Trái đạn pháo vừa rồi chắc chắn là đạn đại bác 100 ly từ pháo tháp T54 bắn tới. Từ khi khai hỏa đến khi nổ rất nhanh. Chúng cách chúng tôi rất gần và có lẽ chúng đã quan sát được vị trí khi chúng tôi bò lên chiều hôm qua. Bây giờ bị nhốt trong căn hầm, tôi không có cách gì liên lạc được với tiểu đoàn, thậm chí với các trung đội của mình. Hai cái máy truyền tin PRC25 đang nằm gọn trong căn hầm BC đại đội.
Mãi tới 8:00 giờ sáng, một toán tiếp cứu đã tìm tới, moi miệng hầm và đem chúng tôi ra. Tiểu đoàn khi mất liên lạc với tôi đã qua tần số nhỏ liên lạc với các trung đội. Ngoại trừ cái hầm BC đại đội bị trúng đạn, các trung đội còn lại vẫn yên ổn. Tiểu đoàn cử một sĩ quan khác thay tôi coi đại đội. Cuộc phản công vẫn tiếp tục. Tôi không còn cơ hội để tìm ra dấu vết hai người bạn cùng trường kể từ đó. Tôi là người duy nhất gần gũi họ, dám làm tất cả vì họ nhưng bây giờ thì đành bất lực.
Hai người lính thay phiên cõng tôi về phía Tòa Hành Chính tỉnh lỵ. Tới chân bức tường gạch mà phía bên trên chồng lên mấy lớp concertina. Họ bồng tôi lên cao và đẩy dưới mông tôi, cố nâng tôi cao ngang lớp hàng rào. Phía trong có mấy người y tá TĐ5 Quân Y đang đợi sẵn. Chuyển tôi vào bằng cách này là gần nhất không phải đi một vòng xa qua cổng phía trước. Cũng nhờ chiếc giày còn lại trong tay, tôi dùng nó ép cái vòng concertina bùng nhùng và lăn qua với sự trợ giúp của hai anh lính tản thương. Thân mình tôi vừa ngả qua được phía bên kia hàng rào thì hai anh y tá TĐ5QY đã đỡ gọn và bồng tôi xuống rồi khiêng vào bên trong tòa nhà đặt tôi nằm dài trên mặt đất. Vào đến đây, tôi đã thấy anh lính mang đồ đang ngồi dựa lưng vào tường nhà miệng luôn rên rỉ. Y chang cái vị thế ngồi trong căn hầm hồi hôm. Bây giờ tôi mới có dịp quan sát kỹ thương tích của hắn. Cái chân trái đã bị tiện đứt ngang bắp đùi. Chân phải cũng vậy nhưng phần chân còn lại chưa lìa khỏi vì còn sợi gân giữ lại. Vài phút sau, Đại úy Hùng, Y sĩ TĐ trưởng QY, đi lên từ căn hầm phía dưới. Ông ta lại ngay chỗ anh lính đang rên la, hỏi han gì đó. Nghe hắn trả lời mót tiểu quá mà đi không được. Từ phía sau lưng, tôi chỉ thấy ông bác sĩ lắc đầu nhè nhẹ, không làm gì thêm, ông quay lại phía tôi. Chỉ vài phút sau hắn nấc lên vài tiếng và trút hơi thở cuối cùng. Ông bác sĩ tháo lớp băng tên y tá đại đội băng tạm cho tôi, lấy lọ thuốc sát trùng dội lên vết thương rồi bảo người phụ tá đưa cho ông kim chỉ. Giờ đây chỗ vết thương càng lúc càng nhức nhối, khó chịu kinh khủng. Cái nhức buốt từ trong xương thốn ra tới ngoài da thịt. Cái miểng pháo xuyên từ gót chân, trổ xéo qua kẽ hở giữa bàn chân và mắt cá. Còn may. Nếu nó xuyên bể cái mắt cá chân thì chắc chắn cái bàn chân tôi phải cưa bỏ. Phần thịt xương chỗ gót chân tôi bể vụn nát bấy. Ông bác sĩ cứ thế dùng kim chỉ khâu, kéo những miếng da bên ngoài bao lại phần thịt nát bầy nhầy bên trong. Phải dùng danh từ “khâu sống” ở đây cho đúng nghĩa. Khâu không có thuốc tê, thuốc mê gì cả. Làm gì có được những thứ xa xỉ ấy nơi chiến trường sôi động này. Ngay cả thuốc cầm máu cũng không. Tôi chỉ biết dương mắt nhìn vết thương dưới chân tiếp tục rỉ máu.
Tôi cảm giác được mũi kim xuyên qua lớp da kéo theo sợi chỉ, nhưng đau đớn thì không hề, bởi vì cái đau nhức từ xương tủy lan ra còn hơn gấp bội. Sau tôi còn hai sĩ quan nữa cùng tiểu đoàn bị thương nhẹ hơn tôi một chút. Ông bác sĩ Quân y cũng băng bó cho họ xong xuôi và rút lại xuống hầm, bản doanh của Bộ Tư Lệnh SĐ.
Kể từ giờ phút này tôi trở thành bất khiển dụng. Tiểu đoàn cho một anh lính, tên Bốn, vào chăm sóc chung cho ba ông sĩ quan thương binh. Phải nói anh lính này rất chịu khó. Anh ta xông xáo đào cho chúng tôi một cái hầm có nắp đàng hoàng ngay trên cái sân cạnh tòa nhà. Anh gỡ những khung cửa sổ, tìm khuân về những khúc gỗ làm thành cái hầm khá chắc chắn. Hai cái võng được giăng phía trên cho tôi và Liêm, một Thiếu úy của đại đội 6. Một Chuẩn úy (lâu ngày tôi đã quên tên) và Bốn trải poncho nằm dưới đất.
Ba ngày đêm liền vết thương của tôi tiếp tục rỉ máu vì không có thuốc cầm. Nằm trên võng, Bốn làm cho tôi một cái đai chỉ huyết ngay bắp đùi. Chừng 10, 15 phút, tôi lại nới ra cho máu có thể lưu thông xuống dưới bàn chân. Một lúc sau, tôi lại thò tay xuống khều khều Bốn ngồi dậy cột lại cho tôi.
Đúng ba ngày sau, vết thương mới hết rỉ máu.
Tôi phải chịu đựng thêm cả tháng trời nữa ở đây. Tôi mang ơn anh lính tên Bốn vì anh đã chạy ra tận bãi thả dù tiếp tế, không dành thuốc lá, không dành đồ ăn mà chờ mọi người đi hết, anh moi tìm nhưng ống trụ sinh về chích cho tôi. Nhiều lần nghe tin có trực thăng tản thương, anh cõng tôi ra bãi đáp ngoài cổng Xa Cam. Có khi đang đi nửa chừng thì bị pháo, anh quẳng tôi xuống và hai thầy trò chỉ biết nằm ngửa nhìn trời ngóng chờ định mạng. Cũng có khi ra được tới bãi đáp thì anh không còn đủ sức cõng tôi chạy đua với những thương binh có cặp giò khỏe mạnh.
Khoảng cuối tháng 5/72, quân dù đã vào được thành phố và phe ta đã phản công lại đẩy vòng vây địch ra xa ngoài phạm vi thị xã. Nghe tin TT Thiệu sẽ đáp xuống An Lộc để ủy lạo binh sĩ, BTL/SĐ cho cắt một toán QC làm an ninh bãi đáp. Tôi được ưu tiên ra cổng tản thương. Bốn cõng tôi đến tận chiếc trực thăng tản thương. Tay tôi chạm vào cái sàn máy bay, một cảm giác mát lạnh chưa hề có trong đời. Tôi sắp an toàn ra khỏi địa ngục khói lửa.
Điều u uất trong lòng mãi mãi vẫn là tin tức hai người bạn. Có thể họ đã hy sinh, có thể đã mất tích nghĩa là trong chiến tranh, chết không tìm được xác. Với cuộc chiến khốc liệt như vậy, điều này không thể tránh khỏi. Nếu tôi có may mắn hơn, không bị thương và giải tỏa được vị trí lấn chiếm của Việt Cộng, chưa chắc tôi đã có cơ may để tìm thấy vị trí chôn cất họ như có người từng nói. Cái giả thuyết họ bị bắt làm tù binh càng khó có thể chấp nhận. Biết bao sĩ quan cao cấp hơn như Đại tá Vĩnh, TRĐ trưởng TRĐ9 bị bắt tại Lộc Ninh còn được trao trả tù binh. Không lý hai sĩ quan cấp úy như Niên trưởng Việt và Nguyện lại bị chúng bắn bỏ! Nếu họ là tù binh chắc chắn họ đã trở về.
Câu hỏi của chị Kiều Trang có thể không ai trả lời được. Tôi, một trong những sĩ quan TRĐ7 còn sống sót sau trận Bình Long, lại là người có liên quan khá gần gũi với anh Việt, cũng không thể làm gì khác hơn để giải đáp cái thắc mắc này cho chị được. Thời gian đã trôi qua quá lâu. Câu chuyện đã trở thành quá khứ, gần như huyền thoại. Chúng ta hãy quên đi, hãy khép lại... Câu trả lời đang chờ đợi chúng ta ở phía trước. Chẳng còn bao lâu nữa đâu, chị ạ!
NT2 Đinh Hồng Lân.
Có một vài chi tiết trong bài của tác giả Giao Chỉ (có thể vì viết theo lời kể của chị Kiều Trang), tôi thấy không chính xác nên xin được nêu lên:
● Trận chiến Bình Long đã bắt đầu khởi sự từ đầu tháng 3/72, ngay sau khi Lộc Ninh thất thủ. Đến tháng 4/72 thì QL13 đã bị cắt đứt. Chị Kiều Trang không có cách nào đáp xe đò lên Bình Long được vào tháng 4/72.
● TĐ3/7 cùng với 2/7 từ biên giới Việt-Miên rút về phòng thủ An Lộc ngay. Không có chuyện TĐ3/7 về Lai Khê rồi lại bốc lên vì tình hình lúc đó rất khẩn cấp.
● Chị nói ở cùng với anh Việt 2 tháng trời, chịu pháo kích. Nếu chị lên An Lộc vào tháng 4/72 thì phải đến tháng 6/72 chị mới về tới Sàigòn. Xin hỏi chị về bằng cách nào vào tháng 6 khi mà lực lượng của ta các SĐ18, SĐ21, Dù... đang dồn nỗ lực giải tỏa QL13 cũng như nhẩy vào thành phố. Rồi chị vừa về tới Sàigòn thì anh Thiếu úy hậu cứ đến nhà báo tin anh Việt tử trận (tháng 6/72).
Như tôi mô tả, nếu quả thật Anh Lê Bắc Việt và Tôn Thất Nguyện đã hy sinh thì đó là vào đêm 13/4/1972 rạng sáng ngày 14/4/1972. Chuyện hậu cứ đến tháng 6 mới báo tin là vì thủ tục hành chánh, phải chờ kiểm kê tổn thất chắc chắn sau cùng.
__________________
LOÀI KHỈ TRỞ THÀNH LOÀI NGƯỜI MẤT TRIỆU NĂM
LOÀI NGƯỜI MUỐN TRỞ THÀNH LOÀI KHỈ TRƯỜNG SƠN HÃY GIA NHẬP ĐẢNG CS VN
HÃy CÓ Ý THỨC HỆ TỰ HỎI " TÔI ĐÃ LÀM GÌ CHO TỔ QUỐC , ĐỪNG HỎI TỔ QUỐC ĐÃ LÀM GÌ CHO TÔI
Last edited by hoanglan22; 11-08-2018 at 04:17.
The Following 8 Users Say Thank You to hoanglan22 For This Useful Post:
“Nhân sinh từ cổ thùy vô tử.
Lưu thủ đan tâm chiếu hản thanh"
Trước năm 1975, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa là một lực lượng Quân Đội được coi là hùng mạnh nhất vùng Đông Nam Á. Quân số có lúc đã lên đến một triệu ba trăm năm mươi mốt ngàn chiến sĩ. (1,351.000).
Nhiệm vụ chính yếu của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa là bảo vệ Miền Nam Việt Nam trước hiểm họa bành trướng, xâm lăng của Cộng Sản. Đối đầu trực diện với giặc Cộng trên khắp các chiến trường dầu sôi lửa bỏng là các đơn vị tổng trừ bị tác chiến nổi danh, đã từng xông pha chiến đấu anh dũng, lập được nhiều chiến công hiển hách, gây cho kẻ thù những tổn nặng nề trên khắp 4 vùng chiến thuật. Đó là các: Sư Đoàn Nhảy Dù, Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến và 17 Liên Đoàn Biệt Động Quân đặt trực thuộc các Vùng Chiến Thuật.
Tuy nhiên trong số đó vẫn còn có một đơn vị tổng trừ bị mà hiệu năng tác chiến, công trạng ít có ai biết đến, nhưng giặc Cộng thì khi nghe đến danh xưng, cũng phải kinh hồn khiếp sợ mà né tránh đụng độ và thường truyền khẩu cùng nhau câu nhật tụng:
“Bất cứ “giặc ngụy” nào cũng đánh.
Nhưng phải tránh đánh Biệt Cách Dù.”
Vâng, đúng vậy. Đơn vị đó là “Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù”, thường được gọi tắt là “Biệt Cách Dù”.
* * *
Trong năm 1970, các hoạt động thả các Toán Biệt Kích thâm nhập ra miền Bắc hoặc các vùng dọc theo biên giới Việt Miên Lào, không còn mang lại những hiệu quả thích đáng. Cùng lúc, Liên Đoàn 5 Special Force của Quân Đội Hoa Kỳ theo lệnh đã triệt thoái ra khỏi Việt Nam. Binh chủng Lực Lượng Đặc Biệt thiếu hụt ngân sách, khí tài để hoạt động nên đã bị giải tán. Các sĩ quan và binh lính đa số được thuyên chuyển sang Biệt Động Quân, số ít còn lại thì về Nha Kỹ Thuật, Nhảy Dù. Riêng hai đơn vị tác chiến của Binh chủng là Trung Tâm Hành Quân Delta và Tiểu Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù được sát nhập lại, với danh xưng là Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù, có phù hiệu mới, nhưng vẫn được giữ nguyên chiếc nón xanh (Green Beret) và phù hiệu của Binh chủng LLĐB. Chỉ Huy Trưởng Liên Đoàn là Trung Tá Phan Văn Huấn. Đến năm 1972, ông được thăng cấp đặc cách đại tá tại mặt trận Bình Long, An Lộc.
* * *
Đại Tá Phan Văn Huấn, sinh trưởng tại tỉnh Thừa Thiên, Huế. Xuất thân Khóa 10 Trần Bình Trọng (1954), trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt, ông là một cấp chỉ huy tài trí, mưu lược, đạo đức, và liêm chính. Ông sống rất bình dân, giản dị, và gần gũi với thuộc cấp. Ông coi trọng tính mạng của binh sĩ còn hơn tính mạng của bản thân.
Lúc còn là Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm Hành Quân Delta (1967-1970), một đơn vị được xem là tình báo chiến thuật, phối hợp hoạt động chung với Lực Lượng Đặc Biệt Hoa Kỳ, cung cấp các Toán Thám Sát Lôi Vũ thâm nhập len lỏi trong rừng sâu, dọc theo biên giới Việt Miên Lào trên dãy núi Trường Sơn, để thu lượm tin tức, khám phá các mật khu, căn cứ địa của địch quân, hay phục kích bắt sống tù binh để đem về khai thác địch tình. Trước khi thâm nhập, Ông rất chu đáo kỹ càng theo dõi buổi trình bày kế hoạch hành quân của các Toán. Ông đặt ra từng câu hỏi cho từng biến cố có thể xảy ra để các Toán Trưởng giải trình đối phó hợp lý. Trong suốt 7 ngày các Toán di hành là 7 ngày Ông có mặt tại Trung Tâm Hành Quân để theo dõi. Trường hợp các Toán bất ngờ đụng độ với địch quân, bị tổn thất nhân mạng, hay bị phân tán là coi như Ông ăn ngủ không yên, một mặt Ông đưa các Đại Đội Myke Force xung kích gấp rút vào tải thương, lấy xác về, một mặt Ông dùng L.19 hoặc Trực Thăng UH.1B bay lượn bao vùng suốt ngày, để tìm kiếm các Toán viên đang thất lạc, cho đến khi tìm kiếm được, hướng dẫn họ đến các bãi trống an toàn, rồi điều động trực thăng đến bốc trở về căn cứ hành quân. Lúc đó, Ông mới thở phào nhẹ nhõm.
Kể từ sau biến cố Tết Mậu Thân (1968), tình hình chiến sự đã trở lại sôi động. Giặc Cộng vẫn nuôi dưỡng ý định xảo trá, tái diễn cái trò lấn đất dành dân, nên ồ ạt chuyển quân qua biên giới, ém quân trong các mật khu, căn cứ địa, ngỏ hầu mở các đợt tấn công qui mô vào các quận lỵ hay thị xã lân cận, để làm áp lực trong cuộc Hội Đàm 4 bên tại Paris, Pháp Quốc.
Trong cương vị Chỉ Huy Trưởng Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù (1970-1975), để đối phó với sự gian manh, thủ đoạn của giặc cộng, cũng như để binh sĩ thuộc quyền luôn duy trì, cũng cố khả năng tác chiến, đề cao cảnh giác trước mọi tình huống có thể xảy ra, Đại Tá Phan Văn Huấn chỉ thị cho mỗi Biệt Đội Xung Kích, ứng chiến tại căn cứ hành quân ở Căn cứ Suối Máu, Biên Hòa hay nghỉ dưỡng quân tại hậu cứ ở ngã tư An Sương, Hốc Môn, phải thường xuyên được huấn luyện và rèn luyện:
- Võ thuật Vovinam.
- Chiến thuật du kích và phản du kích.
- Mưu sinh thoát hiểm.
- Đổ bộ, triệt xuất bằng trực thăng UH.1B.
- Điều chỉnh phi cơ, pháo binh oanh kích tác xạ các mục tiêu.
- Theo học các khóa nhảy dù tại Sư Đoàn Dù.
Ngoài ra, Khối CTCT còn tổ chức huấn luyện về thái độ tác phong đối với dân chúng tại những nơi đồn trú, trong các vùng hành quân, ngõ hầu thu phục nhân tâm, để họ đứng về phía Quốc Gia, không để Việt cộng tuyên truyền, dụ dỗ đi theo bọn chúng.
Chính nhờ vào tài lãnh đạo chỉ huy tài ba, năng động, khắt khe: “Văn ôn võ luyện”như đã nêu trên của Đại Tá mà Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù đánh giặc giỏi, áp dụng nhiều chiến thuật thích ứng với chiến trường Việt Nam, như:“gậy ông đập lưng ông”, có nghĩa là dùng chiến thuật du kích của địch để đánh du kích với địch, và đầy sáng tạo như áp dụng chiến thuật tác xạ súng cối, trọng pháo 7/3 để đánh lừa địch hay xử dụng mìn tự chế để tiêu diệt chiến xa, đục tường, xử dụng dao găm, lựu đạn và võ thuật Vovinam để bắt sống tù binh, diệt chốt, gặt hái được nhiều chiến công hiển hách. Điển hình là các trận:
- Mậu Thân Nha Trang và Ngã Ba Cây Thị, Cây Quéo.Gia Định (1968).
- Tiêu diệt đoàn xe Molotova tại Mật Khu Ashau (1969)
- Tiêu diệt đoàn xe Molotova tại chiến trường Tam Biên, Kontum (2/1971).
- Tái chiếm Bình Long, An Lộc (6/1972)
- Tái chiếm Cổ Thành, Quảng Trị (9/1972).
- Giải tỏa Bến Thế, Bình Dương (1/1973).
- Giải tỏa Tha La Xóm Đạo, Trảng Bàng, Tây Ninh (3/1973).
- Giải tỏa QL.I, Tân Phú Trung, Hốc Môn (1/1974).
- Tịch thu nhiều kho vũ khí tại Chiến Khu D (3/1974).
- Giải tỏa QL.I tại Rừng Lá - Mật Khu Mây Tào (6/1974).
- Tiếp cứu Phước Long (2/1975).
Dù bộn bề quân hành vạn nẻo, Đại Tá rất quan tâm đến đời sống vật chất, tinh thần, tôn trọng và bảo vệ quyền lợi của quân nhân các cấp, nhất là các thương binh, liệt sĩ và gia đình Cô Nhi Qủa Phụ, Tử Sĩ. Ông chỉ thị cho Chỉ Huy Hậu Cứ, Khối CTCT, thường xuyên thăm viếng và phải tìm đủ mọi cách để giúp cho họ có một cuộc sống đầy đủ, lành mạnh vui tươi, bù đắp những mất mát lớn lao mà các Cô Nhi Qủa Phụ phải gánh chịu. Hay sau mỗi cuộc hành quân, binh sĩ phải được nghỉ ngơi thoải mái, lành mạnh, ngõ hầu quên đi bao gian khổ, hiểm nguy, cận kề cái chết trên các chiến trường trận địa thập tử nhất sinh.
Không những thế, Đại Tá Phan Văn Huấn là một con người đầy nhân bản, trung hậu, chí tình chí nghĩa. Đề cao và tri ơn thâm sâu sự hy sinh xương máu của đồng đội chiến hữu. Trong mặt trận Bình Long, An Lộc (6/1972). Ông đã chỉ thị các đơn vị trưởng thuộc quyền, dẫu dù dưới làn mưa đạn, bất cứ giá nào cũng phải tải thương, đưa xác tử sĩ về tập trung chôn cất tại bãi đất trống trước mặt Chợ Bình Long. Kể từ đó Nghĩa Trang Biệt Cách Dù đã đi vào Quân Sử với hai câu thơ bất tử:
“An Lộc địa sử lưu chiến tích.
Biệt Cách Dù vị quốc vong thân.”
Đại Tá Huấn sống hòa đồng, thân thiện và cởi mở với mọi thuộc cấp, nhưng rất nghiêm khắc, và cứng rắn trong quân phong quân kỷ. Không thiên vị mà rất bình đẳng trước công tội, từ sĩ quan cấp tá cho đến binh nhì của đơn vị. Vui chơi là vui chơi, quân hành là quân hành, không thể lẫn lộn, nhập nhằng với nhau được.
Đại Tá Huấn là một con người qủa cảm, khí khái, quang minh chính trực và đại trượng phu, không trốn tránh trách nhiệm để đổ lỗi, qui tội cho thuộc cấp hay đơn vị bạn tăng phái, đã cùng đổ máu sống chết với mình trong lửa đạn đao binh. Điển hình, sau khi Phước Long thất thủ, Không Đoàn 43 Chiến Thuật bị đưa ra điều trần trước Hội Đồng Tướng Lãnh, về sự chậm trể đổ quân giải cứu Phước Long. Đại Tá Phan Văn Huấn đã đích thân đến trước Hội Đồng, xin được phát biểu trước, với những lời lẽ đầy cương quyết, thẳng thắn:
- “Mất Phước Long, lý do tại sao, quý vị đều biết nhưng không ai nói ra. Phần 81 Biệt Cách Dù chúng tôi vào chỗ chết đã đành, bởi nghề nghiệp chúng tôi là chọn chỗ chết để đi vào. Riêng với anh em Không Quân, các phi hành đoàn trực thăng đã làm quá bổn phận của họ, chết lây với chúng tôi thật tội nghiệp. Nay đưa họ ra tòa là điều tôi cho là vô lý. Nếu có lỗi làm mất Phước Long, tôi nhận lỗi. Xin quý vị ở lại tiếp tục họp và cho tôi biết kết quả. Tôi xin phép ra về vì còn nhiều việc phải làm.”
Hành động nêu trên của Đại Tá Huấn, có thể dẫn đến một hậu qủa nghiêm trọng, ảnh hưởng đến con đường binh nghiệp, nhưng dễ có mấy ai đã làm được như Ông. Chính vì thế mà Đại Tá Huấn chiếm được hầu hết cảm tình, sự tôn kính, khâm phục, không những của thuộc cấp trong mà cả ngoài đơn vị cho mãi tới tận bây giờ trong cuộc sống tha phương nơi đất khách quê người.
Ngoài tài thao lược, Đại Tá Huấn còn là một đơn vị trưởng liêm khiết, trong sạch. Không tài sản, không tư gia. Cũng giống như binh sĩ, gia đình của ông gồm một vợ và tám người con, cũng ở trong 3 căn nhà Khu Gia Binh của Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù, ngay góc Quốc Lộ I và Ngã Tư An Sương, Hốc Môn. (Xa lộ Đại Hàn).
Vào những ngày cuối cùng trước khi tàn cuộc chiến tháng 4 năm 1975, tại căn cứ hành quân ở Suối Máu, Biên Hòa, với một BCH Hành Quân của Liên Đoàn, cộng thêm 2 BCH Chiến Thuật 1 và 2, quân số lên đến 2.000 quân, Đại Tá Huấn vẫn đưa các Biệt Đội xung kích, rải quân phòng thủ ở hướng Bắc phi trường Biên Hòa, để sẵn sàng chiến đấu, và thả các Toán Thám Sát, tiếp tục thâm nhập vào chiến khu D, để thu lượm tin tức, theo dõi các hoạt động của địch quân.
Trong lúc tình thế đang nhiễu nhương nguy biến, bất thần có một vài chiếc trực thăng UH.1B, do Bộ Tổng Tham Mưu đã sắp đặt sẵn kế hoạch, bay đến các BCH Hành Quân, các căn cứ địa, tiền đồn, nhằm để đón các vị chỉ huy cao cấp di tản khỏi Việt Nam. Nhưng với Đại Tá Huấn, như đã nói, là một người khí phách, dũng cảm, kiên cường và đầy trung nghĩa, cho dù bất cứ hoàn cảnh nào, cũng không rời bỏ binh sĩ, quyết cùng sống chết có nhau. Ông đã dứt khoát tuyên bố:
- “Tôi có một vợ và tám con. Tôi có thể bỏ lại Gia Đình, nhưng không thể bỏ lại hai ngàn Chiến Sĩ của tôi, để mà ra đi trong hoàn cảnh như thế nầy được.”
Sau đó Ông đã ở lại chiến đấu cùng đơn vị đến giây phút cuối cùng, cho đến khi nghe lệnh của Đại Tướng Dương Văn Minh, Tổng Tư Lệnh Tối Cao Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (lúc đó) kêu gọi toàn thể quân nhân buông súng đầu hàng.
Về sau này, khi ra định cư tại Hoa Kỳ, đã có lần Ông tâm sự trong xúc động, về giây phút có quyết định sinh tử tối hậu, sau khi nghe lệnh truyền buông súng đầu hàng, trong khi các Chiến sĩ Biệt Cách Dù vẫn ngay hàng thẳng lối đứng bao quanh chờ lệnh, trong một khu đất trống gần ngã tư Thủ Đức và Xa lộ Đại Hàn:
- “Lúc này trên đầu tôi không còn ai nữa, một quyết định sai lầm sẽ làm biết bao sinh mạng phải bỏ đi. Chúng tôi đã sát cánh với nhau đến giờ phút cuối cùng. Nhìn anh em tôi không cầm được nước mắt...”
Cuối cùng, sau khi đã họp các cấp Chỉ Huy trong Liên Đoàn, tất cả đều đành phải chấp hành mệnh lệnh, trong nỗi uất hận, đớn đau, ê chề bất tận.
Sau ngày Nước mất Nhà tan, Đại Tá Phan Văn Huấn phải bị 13 năm trong ngục tù cộng sản, lưu đày khổ sai, sống dở chết dở, ở các trại tập trung, mang xảo từ “cải tạo”, nơi những vùng đất hoang vu, xa xăm, khỉ ho cò gáy ở Việt Bắc trong mịt mù tăm tối thê lương.
Suốt 13 năm trong vòng lao lý, trải qua các trại tù từ miền Nam ra đến miền Bắc, trên núi rừng Hoàng Liên Sơn, Yên Bái, Nam Hà và cuối cùng là trại Z.30 Khu A, gần Núi Chứa Chan, Tỉnh Long Khánh, Đại Tá Huấn vẫn luôn giữ vững tư cách và nhân cách, vẫn biểu lộ tính khí khái, kiêu hùng không khiếp nhược, vẫn bảo toàn danh dự, giá trị duy nhất của một chiến sĩ, một cấp Chỉ Huy của một đơn vị lừng danh 81 Biệt Cách Nhảy Dù. Ông đã được anh em đồng tù kính phục, như nhà báo Vũ Ánh với bài viết: “Anh Cả Gia Đình 81 BCND”, hay nhà văn Hoàng Khởi Phong ca tụng qua tác phẩm “Cây Tùng Trước Bão” với một trích đoạn sau đây:
“Trong ánh sáng và bóng tối của một ngày vừa tàn và đêm đang tới, tôi mơ hồ nhìn thấy Ông trong bộ quân phục với cái mũ kết trên đầu có một cái khiên. Trong cái khiên này, tôi nhớ có in hình chạm nổi của một con chim đại bàng và một hàng chữ: ”Tổ Quốc - Danh Dự -Trách Nhiệm”. Đó là 3 tín niệm mà một sĩ quan phải đội ở trên đầu. Không hiểu xưa kia và bây giờ, trong chúng ta đã có bao nhiêu người còn nhớ? Bao nhiêu người đã quên? Qua kính chiếu hậu tôi nhìn thấy Ông trở vào trong nhà. Lưng thật thẳng, mặt ngước cao, Ông có dáng của một Cây Tùng chẳng bao giờ cong lưng trước bão.”
Vào năm 1988 ra khỏi trại tù, Ông sống cùng vợ và 8 người con rất cơ cực, thiếu thốn với tấm thân bệnh tật vì những thương tích chiến trận, vì lao tù hành hạ, trong một căn nhà gỗ, mái tôn vách ván cũ kỹ tạm bợ, tại Ấp Tân Thái Sơn, cạnh Tân Phú, Quận Tân Bình.
Nếu không có những người lính Biệt Cách Dù năm xưa, những người đồng tù, vẫn tồn tại gìn giữ mãi trong lòng sự tôn phục, nể vì về tài năng, khí tiết và yêu thương về nhân cách, đức độ, để hết lòng thường xuyên thăm viếng, chia xẻ tinh thần, vật chất và tận tụy chăm sóc thương tật cho Ông, chắc chắn Ông sẽ không còn sống đến ngày hôm nay, trên đất khách quê người trong cuộc sống lưu vong.
Là một cựu Toán Trưởng Thám Sát Delta, một Biệt Đội Trưởng, Trưởng Khối CTCT của Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù, tôi đã từng sống làm việc dưới quyền chỉ huy của Đại Tá Phan Văn Huấn, trong suốt 9 năm làm lính trận, ít nhiều tôi cũng hiểu rõ về nhân cách, biệt tài lãnh đạo chỉ huy của Ông. Cũng nhờ đó mà Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù đánh đâu thắng đó, mang lại nhiều chiến thắng vẻ vang, được ghi vào Quân Sử, được đồng bào hoan hô, mến mộ và ngưỡng phục từ đó cho tới ngày nay hay luôn cả mai sau vẫn mãi tồn tại..
Sự kiện minh chứng hùng hồn sáng giá nhất về tài năng điều binh thao lược của Đại Tá, đó là vào tháng 6 năm 1972, tại chiến trường Bình Long, An Lộc. Trung Tướng Nguyễn Văn Minh, Tư Lệnh Quân Đoàn III, đã thừa lệnh Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và Đại Tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực VNCH, gắn vinh thăng đặc cách tại mặt trận cấp bậc đại tá cho Trung Tá Phan Văn Huấn, Chỉ Huy Trưởng Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù.
Tôi cảm thấy rất vinh hạnh và may mắn vì trong suốt quãng đời Binh Nghiệp, đã được phục vụ dưới quyền của ông, trong một đơn vị kiêu hùng, thiện chiến của Quân Lực VNCH, đó là: “Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù”.
* * *
Mỗi người chúng ta khi được sinh ra và lớn lên trên thế gian này đều có một thần tượng để ngưỡng mộ, tôn sùng. Tuy nhiên tùy thuộc vào bản tính, sở năng từng người mà có sự chọn lựa về thần tượng của họ. Riêng tôi có lẽ từ thưở thiếu thời, đã tiềm ẩn dòng máu nhà binh trong người, nên sau khi vào lính, theo đơn vị rày đây mai đó trên các trận mạc, để tiêu diệt giặc thù cộng sản, bảo vệ Tổ Quốc, thì thần tượng của tôi không ai khác, chính là vị Chỉ Huy Trưởng Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù: Đại Tá Phan Văn Huấn, một cựu SVSQ Khóa 10 Trần Bình Trọng, Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt. “Đại Tá Phan Văn Huấn chính là niềm hãnh diện tự hào chung cho Trường Sĩ Quan Võ Bị Đà Lạt và các Chiến Sĩ 81 Biệt Cách Nhảy Dù, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.”
__________________
LOÀI KHỈ TRỞ THÀNH LOÀI NGƯỜI MẤT TRIỆU NĂM
LOÀI NGƯỜI MUỐN TRỞ THÀNH LOÀI KHỈ TRƯỜNG SƠN HÃY GIA NHẬP ĐẢNG CS VN
HÃy CÓ Ý THỨC HỆ TỰ HỎI " TÔI ĐÃ LÀM GÌ CHO TỔ QUỐC , ĐỪNG HỎI TỔ QUỐC ĐÃ LÀM GÌ CHO TÔI
The Following 7 Users Say Thank You to hoanglan22 For This Useful Post:
Dòng Cái Lớn chứa đầy tôm cá
Vùng Kiên Hưng giặc phá như tinh
Trên bờ phong cảnh hữu tình
Dưới sông mìn ẩn lục bình ngược xuôi
Trong thời gian lưu lại Kiên Hưng, ngoài những cuộc hành quân thường bị địch bắn trộm B40 và B41, mọi người còn chịu đựng những cơn ác mộng vì lo ngại tàu bị mìn. Nhất là vào những chiều hôm, trước khi đi ngủ, nhân viên luôn luôn thay phiên canh gác để kịp thời phát hiện những đám bèo (lục bình) trôi lại gần tàu.
Tử thần ẩn nấp trong các cụm lục bình!!!
Miền Hậu Giang Việt Nam có một hệ thống sông ngòi chằng chịt như một tổ nhện, nối liền các thị trấn, quận xã bằng đường thủy. Những danh từ như rạch, sông, kinh, được dùng để đặt cho các thủy lộ ấy. “Rạch” là dòng nước nhỏ hẹp, chừng vài mét bề ngang. “Sông” là dòng nước thiên nhiên, rộng lớn chừng vài chục mét hoặc hơn. “Kinh” thường là dòng nước nhân tạo, do người xưa đào từ lâu đời, có đoạn thẳng tắp dọc theo đường liên tỉnh lộ, vì con đường được xây nên bởi đất đào làm kinh.
Có nhiều con sông hai đầu đều thông ra biển, không có thượng nguồn, hạ dòng gì cả. Thủy triều lên xuống không tạo nên dòng nước chảy xiết như nước sông Cửu Long. Hầu như lúc nào dòng nước trong các sông rạch cũng lửng lờ trôi, buổi sáng về đông, buổi chiều sang tây, hay ngược lại. Vì con nước không chảy xiết, lục bình sinh sôi nảy nở rất nhiều trên sông rạch như trên nước ao hồ. Lục bình kết tụ thành đám, thay hình đổi dạng liên miên như mây trời, nên mới có thành ngữ “hợp rồi tan như bèo mây”.
Lợi dụng sự di động chậm của dòng nước, Việt Cộng gài mìn có buộc phao, thả nổi ngụy trang vào bên các cụm lục bình. Mìn có gắn nam châm, khi đến gần thành sắt của giang đĩnh thì bị hút vào.
Nạn tàu chìm vì mìn nổi xảy ra rất thường trên các kinh rạch vùng Hậu Giang. Có loại mìn tối tân, nổ tự động khi chạm vào thành sắt, nhưng rất hiếm thấy. Phần lớn là các loại mìn nội hóa thô sơ có giây điện gắn theo dài tới vài trăm thước. Đầu giây điện nối vào cục pin điện để trên bờ, gần hàng đáy. “Hàng đáy” là những cọc cây đước, do ngư dân cắm xuống lòng sông, ra tận giữa sông để gắn lưới chài tôm và cá.
Chờ lúc con nước chảy về phía có tàu đậu, địch bơi ra giữa dòng, buộc mìn vào mấy cụm lục bình, quàng giây điện vào một cọc đáy, rồi lên bờ, nới dây điện dài ra cho đến khi mìn trôi theo các cụm lục bình đến gần tàu và bám vào hông tàu nhờ sức hút của nam châm gắn trên mìn. Ở trên bờ thượng dòng, bên hàng đáy, khi thấy giây điện không còn bị kéo dài ra nữa, địch có thể đoán biết được mìn đã bị hút vào hông tàu. Nhấn chốt nối dòng điện, mìn liền nổ tung. Ở trên bờ, địch sẽ khoái trá nhìn chiếc tàu tung lên rồi từ từ chìm xuống, lôi theo thân xác của những người lính Hải Quân nạn nhân vào dòng nước đục.
Thấm thoắt mà đã gần ba tháng kể từ ngày tân đáo đơn vị. Tôi dần dần quen thuộc các sinh hoạt thường nhật và tên gọi của nhân viên trong Giang Đoàn, nhất là trong thời gian xử lý thường vụ cho Chỉ Huy Trưởng đi phép.
Một hôm mùa Hạ, trời khá nóng nực, tôi đang ngồi nghiên cứu bản đồ địa phương, cố thuộc lòng các địa thế, địa danh thôn xóm và kinh rạch, thì Thiếu Tá Điền tới vỗ vai và nói:
– Này, sao đăm chiêu thế toa? Nhớ nhà hả?
Tôi chỉ cười, chờ đợi mà không trả lời câu hỏi. Tánh anh Điền lúc nào cũng bặt thiệp và hào sảng nên hẳn là anh có chuyện gì vui muốn nói.
– Ngày mai, toa lấy một chiếc Alpha về Rạch Sỏi rồi bảo Hạ Sĩ Năng lấy xe jeep chở về thăm nhà!
Tôi vui mừng đáp:
– Cảm ơn ông “Trưởng”. Tôi định xin phép thì ông đã “đi guốc” trong bụng tôi rồi. Có điều nhà tôi ở mãi tận Nha Trang, đi về mất mấy ngày, không biết thời gian tiêu chuẩn đi phép 10 ngày có thấm thía gì không?
– Thì toa đi hai tuần! Anh Điền đáp một cách thản nhiên. Nhưng lúc nào trở lại nhớ mang mấy ký mực khô Nha Trang để nhậu với rượu nếp than nhé!
– Bắt buộc! Nhưng mà tôi biết lái xe và có bằng lái. Tôi muốn tự lái xe về thăm nhà, không phiền đến Hạ Sĩ Năng.
– Thế à. Tùy toa. Giang Đoàn mình có hai chiếc jeep. Toa lấy một chiếc mà về thăm nhà.
Khi tôi mãn phép trở lại Bộ Chỉ Huy Tiền Phương của LLTB tại Rạch Sỏi thì liền nhận hung tin: Tối hôm trước, chiếc giang đĩnh của Thiếu Tá Điền bị mìn lật úp và anh đã bị mất tích! Tôi bèn vội gọi máy vô tuyến rồi lên xe jeep của Giang Đoàn đến bãi sông Tắc Cậu chờ tàu về đón ra vùng hành quân.
Chờ một lúc thì hai chiếc Alpha từ ngoài Sông Cái Lớn ghé vào. Tư Lệnh Lực Lượng Thủy Bộ Hoàng Cơ Minh bước lên bờ. Sau khi tiếp nhận cái chào kính của tôi, ông ra lệnh:
– Tôi chỉ định Đại Úy tạm thời Quyền Chỉ Huy Trưởng Giang Đoàn 75 thay thế Thiếu Tá Nguyễn Xuân Điền, cho đến khi có lệnh mới. Bây giờ anh ra Kiên Hưng cố gắng điều động giang đoàn tuần tiểu bảo vệ chiếc tàu bị chìm cho đến khi toán Người Nhái tìm được tung tích hoặc xác của Thiếu Tá Điền!
Kế rồi Đại Tá Minh quay lưng, lên xe jeep của ông ấy đã chờ sẵn, ra hiệu cho tài xế lái đi luôn.
Tôi xuống chiếc giang đĩnh, trở lại vùng Kiên Hưng.
Ra đến vùng Thới An – Hốc Hòa, tôi thấy vài chục chiếc giang đĩnh đang tuần tiểu quanh một chiếc tàu bị nạn, lúc bấy giờ đang lật úp, lườn tàu phía trước nhô lên khỏi mặt nước. Toán Người Nhái vừa vớt được hai người thủy thủ bị chết đuối trong lòng tàu. Họ không tìm thấy anh Điền đâu cả. Hỏi ra mới biết chiếc tàu bị nạn ấy là một chiếc Tango của GĐ74TB chứ không phải chiếc Tango 97 của Chỉ Huy Trưởng GĐ75TB.
Toán Người Nhái lặn tìm mãi, chỉ kiếm được xác của hai nhân viên bị chết đuối vì kẹt trong tàu. Vài hôm sau, họ lại vớt được hai tử thi của hai nhân viên khác nổi lên ở mấy địa điểm khá xa chiếc tàu chìm. Riêng tung tích anh Điền thì vẫn bặt tăm, nên được xem là “mất tích”.
Một tuần sau thì Liên Đoàn được lệnh điều động về Kiên An. Hành quân vùng Kiên An, Tắc Cậu và Kinh Cán Gáo, tương đối an toàn hơn ở Kiên Hưng và Cánh Đồng Thơm Chương Thiện.
Ba tháng kế tiếp là thời gian tôi làm Quyền CHT/GĐ75TB và đã trở lại Kiên Hưng để hành quân một lần nữa, sẽ thuật lại sau. Ở đây xin kể nốt tin tức về Thiếu Tá Điền.
Sáu tháng sau, một hôm tôi đang nghỉ phép ở Nha Trang thì Thiếu Tá Điền bước vào nhà bố vợ tôi. Anh em mừng rỡ ôm chầm lấy nhau. Với giọng Bắc Kỳ di cư và tài nói chuyện dí dỏm, anh kể chuyện bị Việt cộng bắt và chuyện vượt ngục trở về, ly kỳ như chuyện phim:
Chiều hôm ấy, Thiếu Tá Điền được Trung Tá Liên Đoàn Trưởng TTT gọi sang tàu ông ấy ăn cơm và bàn chuyện hành quân. Cơm nước, thảo luận đến lúc tối mịt, anh Điền định về tàu mình thì bỗng có tiếng nổ lớn: Chiếc Tango bị trúng mìn VC, bể mất một mảng lườn, nước vô xối xả, tàu nghiêng đi rất nhanh. Trung Tá T và mọi người nhảy xuống nước và được các chiến đĩnh khác vớt lên. Riêng anh Điền còn nán lại để giúp vài nhân viên của GĐ74TB bị choáng váng trong tàu vì sức chấn động của mìn nổ và đang bơi bì bõm trong lòng tàu lúc bấy giờ đã ngập nước.
Đang vói tay kéo mấy nhân viên lên thì chiếc tàu đột nhiên lật úp vì nước vào quá nhiều. Anh và hai nhân viên bị kẹt trong đó mấy tiếng đồng hồ, chỉ thở được bằng bọng không khí bên trong.
Tàu chìm dần xuống gần đáy sông. Ba người cố gắng lặn xuống để chui ra ngoài, nhưng áp lực nước quá mạnh làm tức ngực, chịu không nổi, phải trồi lên thở bằng bọng không khí. Lần lặn cuối cùng chỉ có anh Điền may mắn đủ hơi sức thoát ra được, còn hai nhân viên vẫn bị kẹt ở trong tàu. Anh leo lên ngồi trên lườn tàu đã lập úp, chỗ phần phía trước tàu còn nhô lên khỏi mặt nước, chờ anh em đến cứu. Nhưng đoàn tàu đã dời xuống hạ dòng, cách xa khoảng vài cây số. Khi trời mờ sáng anh Điền có thể nhìn thấy những giang đĩnh đi tuần nhưng chờ mãi vẫn không thấy chiếc nào đến gần.
Thế rồi một chiếc ghe đuôi tôm từ bên bờ Bắc miệt Thới An chạy sang Hốc Hòa, gần chỗ chiếc giang đĩnh bị chìm. Anh Điền mừng rỡ đứng lên vẫy gọi. Chiếc ghe đổi hướng về phía tàu chìm. Đến gần, anh nhận ra một cậu thiếu niên lái ghe chở một nhà sư mặc áo tỳ kheo màu vàng úa. Nhà sư nhìn thấy anh nhưng đột nhiên không chịu cứu độ người gặp nạn, ra hiệu cho thiếu niên bẻ lái chiếc ghe chạy luôn sang Hốc Hòa.
Một lát sau thì có một chiếc ghe đuôi tôm từ miệt Hốc Hòa chạy thẳng về hướng chiếc tàu chìm. Trên ghe có hai người đàn ông trung niên mặc áo bà ba đen. Khi ghe đến gần, một người rút trong mình một khẩu súng colt, ra lệnh anh Điễn nhảy xuống ghe. Chiếc ghe bèn quay hướng chạy về Hốc Hòa. Lên bờ, anh bị mấy tên du kích VC chờ sẵn, trói tay chân và bịt mắt miệng, nhốt trong hầm trú ẩn gần bờ, khuất sau mấy bụi chà là (dừa nước).
Một thời gian thật lâu sau, anh nghe tiếng tàu chạy qua lại rất gần bờ và có tiếng người nói chuyện trên máy vô tuyến. Anh nghe cả tiếng kêu gọi tên mình nữa. Chung quanh hầm không còn nghe tiếng bọn du kích, anh Điền đoán là bọn chúng sợ bị lộ nên đã bỏ anh nằm một mình và chạy trốn rồi. Anh muốn vùng vẫy mở khăn bịt miệng để kêu cứu nhưng chúng cột chặt quá, không thoát được.
Anh chịu đựng tình trạng thúc thủ như thế rất lâu. Đến khi bọn du kích trở lại mở khăn bịt mắt cho anh thì trời đã tối. Chúng dẫn anh đi vào sâu trong xóm, cho ăn uống rồi dẫn vào rừng U Minh Thượng, phía nam lưu vực Sông Cái Lớn. Nơi ấy anh gặp rất nhiều tù binh, đại đa số là sĩ quan đủ các loại binh chủng Bộ Binh, Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Động, Nhảy Dù, v.v., duy nhất chỉ có anh Điền là sĩ quan Hải Quân.
Bị nhốt ở rừng U Minh khoảng 6 tháng, ngày nào anh cũng bị tra hỏi về các chiến thuật hành quân của LLTB nói riêng và của Hải Quân nói chung.
Đám tù bị di chuyển thường xuyên. Lần sau cùng ra gần bờ sông lớn, vì nơi ấy đã cảm thấy gió mát từ sông thổi vào.
Những ngày có dịp đi ra ngoài làm lao động canh tác sản xuất, anh đã cố gắng ghi nhận hướng di chuyển của mặt trời và địa thế, đối chiếu với các hình thể địa dư trên bản đồ hành quân mà anh còn nhớ, để phỏng đoán vị trí của trại tù. Anh đoán là mình đang bị di chuyển về hướng tây nam và đang ở trong rừng U Minh Hạ, gần sông Trèm Trẹm hoặc sông Ông Đốc. Đêm đêm, nhóm tù binh nhìn về hướng Tây Bắc, thấy có những hỏa châu bắn lên từ một vị trí cố định, họ đoán nơi ấy là đồn bót hay quận lỵ, chớ không phải là hoả châu di động của các cuộc hành quân.
Một đêm trời không trăng nhưng đầy sao, lợi dụng lúc bọn quản canh ngủ say, anh đã cùng một số sĩ quan bạn thi hành kế hoạch vượt thoát đã chuẩn bị từ lâu. Mới đầu họ chạy về hướng Nam khoảng vài cây số. Đến khi gặp một con rạch nhỏ thì chạy theo giữa giòng nước khoảng vài trăm thước rồi mới vượt sang bờ bên kia và chạy về hướng tây. Khoảng một giờ, họ lại đổi về hướng bắc, có chòm sao Bắc Đẩu vằng vặc trên trời, đằng trước mặt. Họ băng sang nhiều con rạch mà đi khoảng vài giờ, thì thấy có những đốm hỏa châu thỉnh thoảng lại lóe lên từ chân trời. Họ lại xác định vị trí các hỏa châu bằng cách đối chiếu với sao trời và chạy về hướng đó. Các đốm hoả châu càng lúc càng lớn dần.
Cuối cùng, đến gần sáng anh Điền và đồng bạn tù đã trốn thoát đến được Chi Khu Thới Bình gần bên sông Trèm Trẹm. Nơi đây, sau khi kiểm chứng danh tánh, anh Điền đã được trực thăng của LLTB đón về Rạch Sỏi. Sau thời gian trình diện, điều trần, và báo cáo tại Cục An Ninh Hải Quân, anh được đổi ra Trại Tây Kết, vùng 2 Duyên Hải - Nha Trang. Nhờ đó anh đã có dịp ghé thăm tôi nhân dịp tôi về phép.
Sau năm 75, Thiếu Tá Nguyễn Xuân Điền ở lại và bị bắt đi tù cải tạo. Năm 1992 anh đã sang Mỹ theo diện HO, và đang cư ngụ tại trị trấn Covina, phía đông Los Angeles, California. Mùa Hè năm 1999, tôi đã được gặp lại anh, đã cùng anh nâng ly bia uống mừng ngày tái ngộ và ôn lại những kỷ niệm của những ngày tháng gian khổ trong vùng U Minh hung hiểm.
[IMG][/IMG]
Nguyễn Đình Sài
__________________
LOÀI KHỈ TRỞ THÀNH LOÀI NGƯỜI MẤT TRIỆU NĂM
LOÀI NGƯỜI MUỐN TRỞ THÀNH LOÀI KHỈ TRƯỜNG SƠN HÃY GIA NHẬP ĐẢNG CS VN
HÃy CÓ Ý THỨC HỆ TỰ HỎI " TÔI ĐÃ LÀM GÌ CHO TỔ QUỐC , ĐỪNG HỎI TỔ QUỐC ĐÃ LÀM GÌ CHO TÔI
The Following 7 Users Say Thank You to hoanglan22 For This Useful Post:
Lời ngõ ý đầu đề trong trang của lính
Tôi HL mở trang này không có mục đích tuyên truyền đả kích một cá nhân hay một đoàn thể nào chỉ là vinh danh các chiến sĩ QLVNCH nói chung và các bạn hữu của tôi đã từng cầm súng nói riêng chiến đấu cho quê hương VN . Các bạn già của tôi ở đây dù quen hay không quen vẫn là những người cùng sát vai chiến đấu với lập trường chống cộng và để nhớ lại những chiến tích của chúng mình qua từng đơn vị đã tham gia . Nhất là để nhớ thương những chiến hữu TPB đã hy sinh một phần thân thể cho Tổ Quốc . HL tôi lúc nào cũng ghi nhớ , gần chục năm nay tôi vẫn thường giúp đỡ những anh em về vật chất trong những cảnh nghèo khó , nhưng tinh thần của các Anh em chúng mình đều có tâm niệm là người VN cùng chung dòng máu nhưng không chung TỔ QUỐC với bè lũ CS
Riêng đối với các bạn trẻ chưa từng cầm súng chiến đấu thì nên noi gương những bậc cha anh của mình giữ vững lập trường chống cộng , việc này đòi hỏi ở thế hệ các cháu đừng quên những gì về quê hương bọn CS đã và đang làm .
Thân chào
Lão ủm hộ tối đa nhe.
: eek:: eek:
The Following User Says Thank You to ez4me For This Useful Post:
Tụi bay phải kể lể "giai đoạn lịch sử" đào ngũ trước địch quân nữa nghen bay....
Tao muốn nghe thứ đó 1 cách đàng hoàng, chứ tao chán đọc mấy thứ "mũ xanh", "mũ đỏ", "mũ vàng", "mũ trắng" gì đó mà éo làm nên tích sự gì....
Đốm cút ngay !Đã đem mày đi thiến rồi ,mà vẫn chưa chừa thói sủa bậy .Quen thói chó dại ,chó hoang có ngày xe bắt chó tròng thòng lọng vào cổ , lúc đó từ chó ghẻ thành chó chết đó nghe chưa đốm ?Cút ngay ra gầm chuồng gà lẹ lên ...
The Following 2 Users Say Thank You to Đôla Trăm For This Useful Post:
Tôi muốn nhắn nhủ chú daibac một điều . Tôi mở trang này như đầu đề đã nói không đả kích bất cứ cá nhân nào hay một đoàn thể . Các bạn nào thích thì vào đọc không thích thì đi ra khỏi trang này .
Trang này không phải là trang để post bậy bạ với những lời nói như chú , chú nên tự trọng bản thân mình nếu nghĩ rằng mình là con người có hiểu biết và học thức . Hy vọng chú hiểu những gì tôi nói .
__________________
LOÀI KHỈ TRỞ THÀNH LOÀI NGƯỜI MẤT TRIỆU NĂM
LOÀI NGƯỜI MUỐN TRỞ THÀNH LOÀI KHỈ TRƯỜNG SƠN HÃY GIA NHẬP ĐẢNG CS VN
HÃy CÓ Ý THỨC HỆ TỰ HỎI " TÔI ĐÃ LÀM GÌ CHO TỔ QUỐC , ĐỪNG HỎI TỔ QUỐC ĐÃ LÀM GÌ CHO TÔI
The Following 2 Users Say Thank You to hoanglan22 For This Useful Post:
Chuyện đầu hàng của một Trung Đoàn VNCH
Pháo thủ thành Carol
Khi Cố vấn bỏ Trung đoàn:
Một trong những quy luật quan trọng là cố vấn không được bỏ đơn vị tại chiến trường nếu không có phép của cấp trên. Cách đây 37 năm, ngày 2 tháng 4-1972 trung tá William Camper, cố vấn trưởng trung đoàn 56 đóng tại Camp Carroll điện về ban cố vấn sư đoàn 3 xin di tản. Ông được lệnh phải ở lại, nhưng trung tá Camper cúp máy và tìm đường thoát thân
30 năm sau, năm 1972, vị cố vấn trung đoàn, William Camper đã viết lại câu chuyện vì sao cố vấn Hoa Kỳ phải bỏ đơn vị.
Lúc đó Trung tá Camper đã là 1 tay đầy kinh nghiệm. Nhiệm kỳ 1964 ông cố vấn cho Trung đoàn 2 tại Vùng I. Tình nguyện thêm nhiệm kỳ thứ hai năm 1972 ông làm cố vấn trưởng cho Trung tá Phạm văn Ðính, trung đoàn trưởng 56 thuộc sư đoàn 3 Bộ binh. Ðây là trung đoàn yếu của sư đoàn hỏa tuyến. Nhưng trung đoàn trưởng lại được coi là 1 sỹ quan xuất sắc. Anh hùng Tết Mậu thân, chỉ huy đơn vị Hắc báo Sư đoàn 1, lính của ông được vinh dự kéo cờ trong bức hình lịch sử 1968 tại Thành Nội. Trung tá Trung đoàn trưởng 28 tuổi, vừa đem đơn vị vào nhận căn cứ Carroll được mấy ngày. Cố vấn Camper cũng là tay cừ khôi. Có phụ tá là thiếu tá Brown lỳ lợm. Camp Carroll nằm ở phía nam Cam Lộ, trên đường 9, lối đi vào Hạ Lào.
Trước đây Carroll là căn cứ của sư đoàn Nhẩy dù Hoa Kỳ 101 có cả tiểu đoàn pháo binh cơ động 175 ly. Ðây là một căn cứ hỏa lực mạnh nhất vùng I chiến thuật yểm trợ cho Khe Sanh và bao vùng toàn thể mặt trận tây bắc Quảng Trị.
Cho đến cuối tháng 3-1972 báo cáo của trung tá William Camper ghi nhận căn cứ Carroll có 1.800 binh sĩ, 1 tiểu đoàn bộ binh, Bộ chỉ huy trung đoàn, và nhiều đơn vị trực thuộc. Một tiểu đoàn pháo 155 tăng cường gồm 4 pháo đội 4 góc. Hai pháo đội 105. 1 pháo đội 155. Ðặc biệt có 1 pháo đội 175 với súng đại bác nòng dài được gọi là vua chiến trường. Quân dụng này do pháo binh Hoa Kỳ khi rút khỏi Carroll đã bàn giao lại.
Nội trong tháng 3-72 địch đã uy hiếp các tiền đồn quanh căn cứ Carroll phải rút. Gần như không còn đơn vị nào ở phía Bắc và Tây bắc. Trại Carroll đã ngửi thấy mùi của Bắc quân. Vào lúc 11:30 ngày 30-3-1972 toàn bộ trung đoàn pháo Bông Lau của cộng sản với 40 đại bác 130 và 122 tập trung hỏa lực dứt điểm Carroll.
Sau 1 ngày 1 đêm, tinh thần binh sĩ giao động nhưng ban cố vấn nghĩ rằng vẫn còn chịu đựng được. Sẵn sàng cho trận đánh cuối cùng khi bộ binh cộng sản tấn công.
Lúc đó trung tá Camper đang nóng lòng chờ đợi thiếu tá cố vấn phó Joseph Brow đi lãnh tiếp tế chưa thấy về đồn. Ðến chiều ông này vượt vòng vây về được Carroll.
Hai anh sĩ quan Mỹ hết sức cô đơn giữa đơn vị Việt Nam, có cả anh trung đoàn phó Việt Nam thù Mỹ ra mặt. Tương lai chưa biết ra sao. Bèn lấy 2 lon coca nguội cuối cùng uống mừng lễ Easter tháng 4-1972. Chưa bao giờ những chiến binh Hoa Kỳ phiêu lưu này có được ngày lễ Phục sinh lạ lùng như vậy. Quay đi quay lại chợt Camper không thấy có sỹ quan Việt Nam. Họ đi đâu hết. Vội vàng nhào lên bộ chỉ huy trung đoàn và được biết ông trung tá Ðính họp bộ tham mưu khẩn cấp và loan báo Camp Carroll sẽ đầu hàng.
Căn cứ Carrol.
Trong câu chuyện kể lại 30 năm sau, Trung tá Camper cho biết, ông từ chối việc đầu hàng và liên lạc về Sư đoàn 3 xin lệnh cố vấn trưởng cho phép tìm đường máu mà ra đi. Lệnh từ cố vấn sư đoàn bắt phải ở lại vì nghĩ rằng viên cố vấn trung đoàn mất tinh thần nên tìm đường trốn khỏi đơn vị.
Sau cùng, cứ như phim ciné, 2 tay cố vấn liều chết được trực thăng Mỹ vô tình bay ngang có phản lực hộ tống đáp xuống cứu thoát, đem theo hơn 30 binh sĩ Việt Nam cùng thoát hiểm với vũ khí đầy đủ.
Khi về đến Ái Tử rồi đến Quảng Trị, cố vấn trưởng và tướng Giai, tư lệnh sư đoàn 3 vẫn không tin là trung đoàn 56 đầu hàng. Về sau khi binh sĩ chạy về kể chuyện đơn vị treo cờ trắng và cho đến khi nghe tiếng của trung tá Ðính trên đài phát thanh Hà Nội, tướng Giai ngỏ lời xin lỗi trung tá Camper.
Tuy nhiên, trong báo cáo tường trình của viên cố vấn có 1 đoạn viết như sau: “Khi trực thăng cấp cứu đưa được cố vấn ra khỏi trại, phi công nhìn thấy cả trung đoàn đang chuẩn bị đầu hàng. Vải trắng bay phất phới mọi nơi. Trung tá Camper cảm thấy hết sức bất mãn, quả là thảm kịch. Chưa bao giờ quân miền Nam lại đầu hàng cả trung đoàn. Tuy nhiên, ông viết tiếp, phải ghi nhận rằng không phải tất cả các chiến binh Việt Nam tại đồn Carroll đã lựa chọn giải pháp đầu hàng. Một pháo đội thủy quân lục chiến Việt Nam duy nhất đóng tại Carroll với nhiệm vụ yểm trợ bao vùng. Ðơn vị này đã gửi điện văn về Mai Lộc cho biết họ sẽ không đầu hàng. Khi Bắc quân tiến vào cổng trại, pháo đội B của lính mũ xanh hạ ngang nòng súng tiếp tục chiến đấu đến giờ phút cuối cùng. Rồi cũng chẳng phải tất cả các lính bộ binh khác đều theo lệnh trung tá Ðính. Trên 300 binh sĩ của tiểu đoàn đã phá vòng vây để tìm đường tự giải thoát. Cho đến giữa tháng 4-1972 đã có gần 1.000 chiến binh của trung đoàn 56 vượt qua phòng tuyến của Bắc quân mà về miền Nam.”
Ðó là nguyên văn báo cáo của Camper mới được phổ biến mấy năm gần đây.
Người anh hùng và kẻ phản bội trong quân lực Việt Nam Cộng Hòa
Trên đường đi ngược dòng lịch sử, tìm về cuộc chiến mùa Phục sinh năm 1972, chúng tôi đọc tất cả tài liệu và đi hỏi rất nhiều người. Ðặc biệt muốn tìm cho ra, ai là nhân chứng cho thủy quân lục chiến của pháo đội B, trấn thủ Camp Carroll vào tháng 4 năm 1972. Và ai là người pháo đội trưởng đã không chịu đầu hàng. Ai đã từ chối treo vải trắng trong khu vực trách nhiệm. Nếu giờ này còn sống thì anh ở đâu.
Lang thang trong rừng lịch sử chiến tranh trên sách báo Mỹ, tôi tìm thấy tác phẩm Người anh hùng và kẻ phản bội, trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa(Heroism and Betrayal in The ARVN) Tác giả Andrew A. Wiest.
Cuốn sách này viết về 2 nhân vật của quân lực miền Nam. Ðó là trung tá Huế và trung tá Ðính.
Cả hai đều là chiến hữu xuất thân từ miền Trung Việt Nam. Hoàn cảnh đưa đẩy cùng vào sinh ra tử trong nhiều trận. Trung tá Ðính, như chúng ta đã biết, đầu hàng cộng sản đầu tháng tư 72, và được tuyên dương rất ồn ào. Ðược phong cấp bậc trung tá “quân đội nhân dân”. Về sau lên thượng tá, và ngày nay giải ngũ về sống tại Huế.
Trung tá Huế thì đi tù cộng sản và được HO qua sống tại Hoa Kỳ. Ông Huế lẫm liệt từ đầu tới cuối, anh dũng trong chiến tranh, can trường trong chiến bại khi đi tù cải tạo. Sau cùng qua Mỹ làm lại cuộc đời. Hoàn cảnh của ông cũng như hàng ngàn chiến sĩ miền Nam và tác giả gọi là anh hùng.
Phần ông trung tá Ðính, với ngọn cờ trắng tại Camp Carroll và những lời xu nịnh kẻ thù trên radio, tác giả xếp ông vào loại phản bội. Dù trước đó ông Ðính đã từng là anh hùng của quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Ðã được gọi là “Young lion”. Xếp hạng sĩ quan trẻ xuất sắc như các tiểu mãnh sư.
Tuy nhiên, toàn bộ cuốn sách vẫn không tìm thấy bóng dáng của Pháo đội B thủy quân lục chiến tại Camp Carroll vào tháng 4-1972.
Ngoài ra, quyết định đầu hàng của Trại Carroll và trung tá Ðính là một mất mát đau thương chưa từng xẩy ra cho miền Nam. Dù cho có sự tuyên bố phản bội rõ ràng, nhưng thật sự cũng còn nhiều lý do rất phức tạp chưa ai hiểu rõ.
Chuyện “Mùa hè Cháy“
Cuộc chiến mùa phục sinh 1972, phe ta gọi là mùa hè đỏ lửa theo tác phẩm rất nổi tiếng của Phan Nhật Nam. Phe miền Bắc cũng có tác phẩm của đại tá pháo binh Quý Hải.
Sách có tựa đề là Mùa Hè Cháy. Ðây là cuốn nhật ký chiến tranh gần 300 trang viết về đọan đường hành quân kéo pháo từ miền Bắc vào đánh trận Quảng Trị. Ðơn vị pháo của tác giả có tên là trung đoàn Bông Lau, trực tiếp bắn pháo tập trung vào căn cứ Carroll và sau cùng chính trung đoàn pháo này được coi như có công đầu trong việc thúc ép Carroll đầu hàng.
Tác phẩm này đã tả chi tiết con đường của miền Bắc đưa pháo vào chiến trường và chính khả năng pháo binh rất mảnh liệt từ 122 đến 130 và 152 ly của khối Cộng đã đạt được thắng lợi trong giai đoạn đầu của chiến dịch Quảng Trị mùa hè 72. Trang 211 tác giả đã có dịp ghi rõ vào ngày 1 tháng 5 năm 1972 Bắc quân tràn vào thị xã Quảng Trị, sau khi sư đoàn 3 tan hàng rút đi. Chính vào giờ phút đó lính và dân chạy loạn chen chúc trên quốc lộ số 1 thì pháo 122 và 130 của trung đoàn 38 bắn chụp lên toàn bộ đoạn đường Quảng trị-La Vang và làm thành 1 thảm cảnh mà chính cộng sản cũng biết là rất tàn khốc, khủng khiếp.
Ðó là nguyên văn tài liệu của đại tá pháo binh cộng sản Nguyễn Quý Hải tả về con đường mà sau này báo chí miền Nam gọi là Ðại lộ Kinh hoàng. Trong cuốn sách này, tác giả của pháo binh miền Bắc đã xử dụng nhiều bài viết của người Việt tại hải ngoại để dành đọc thêm phần tham khảo.
Chúng ta có dịp thấy rõ văn chương của phe cộng sản dù cố viết trung thực, vẫn còn nhiều đoạn tuyên truyền giáo điều làm hỏng giá trị lịch sử của tác phẩm.
Trong khi đó bài viết của người Việt tự do rất đơn giản và khách quan. Không có đoạn nào tuyên truyền bình luận chính trị làm người đọc chán nản.
Tuy nhiên điều quan trọng nhất là khi viết về vụ đầu hàng của căn cứ Carroll, không có hàng chữ nào của cộng sản viết về hành động không chịu đầu hàng của pháo đội thủy quân lục chiến.
Và chúng tôi vẫn phải tiếp tục đi tìm.
Lời rao đã gởi lên các báo, radio, và các trang điện toán. Vẫn còn phải đi tìm người pháo thủ của thành Carroll
Người pháo thủ Thành Carroll
Khi tôi gọi điện từ California về Florida lần đầu, nghe tiếng trả lời rất từ tốn. Vâng, tôi là Tâm đây. Ðúng vậy, 37 năm trước tôi là đại úy Tâm, pháo đội trưởng pháo đội B thủy quân lục chiến ở Camp Carroll.
Và như vậy là chúng tôi đã tìm được người pháo thủ thành Carroll của trận Mùa Hè 1972.
Ðầu đuôi như thế này: Tại thành phố Lutz của tiểu bang Florida có anh Thịnh là chiến hữu của anh Bẩy Saigon. Ðây là tên hiệu của đại úy Nguyễn văn Tâm.
Anh Thịnh đọc bản tin trên điện báo thấy có người hỏi về pháo binh thủy quân lục chiến ở Camp Carroll bèn liên lạc với ông Bẩy và mặt khác nhắn tin cho chúng tôi.
Và bây giờ là chuyện của của người pháo binh mũ xanh tự coi như quân đội và cả cuộc đời bỏ quên anh từ 1972.
Anh Tâm cho biết là dân Bắc kỳ di cư, cả nhà đạo gốc, đi Thủ Ðức khóa 12 ra trường năm 1962 về thủy quân lục chiến rồi đi học pháo binh. Du học Mỹ 1 năm, lập gia đình. Ðầu năm 1972 đem pháo đội B của tiểu đoàn 1 pháo binh TQLC ra Huế, đóng tại Camp Carroll, yểm trợ cho lữ đoàn 259.
Nói đến căn cứ Carroll, người pháo thủ của chúng ta hết sức dè dặt. Anh cho biết khi các cố vấn Mỹ thấy ông Ðính ra lệnh đầu hàng thì chỉ có đơn vị pháo binh thủy quân lục chiến không chấp nhận. Cả hai ông cố vấn bèn tìm đến khu vực của pháo đội B nói chuyện. Anh Tâm cũng muốn thảo luận để phối hợp hành động. Tuy nhiên bên cố vấn cũng chưa biết tính đường nào. Có thể họ nghĩ rằng phá vây đơn lẻ thì dễ thoát. Do đó mạnh ai tính lấy chuyện của mình.
Ðại úy Tâm về họp các sĩ quan, và hạ sĩ quan nòng cốt. Tất cả đồng ý không hàng. Anh Tâm bèn chia ra nhiều toán và chỉ thị sẽ tùy nghi chiến đấu tìm đường tẩu thoát. Anh ủy cho 1 sỹ quan người địa phương biết địa lý. Cố thoát về được để báo cáo cho Bộ chỉ huy TQLC. Tất cả anh em đều đồng ý không chịu kéo cờ hàng.
Sau cùng kết cục cũng không phải là trận đẫm máu như đã dự trù. Trong lúc các đơn vị bộ binh đầu hàng, địch ở ngay sau lưng thủy quân lục chiến nên hầu hết các sỹ quan pháo binh của pháo đội đều bị bắt làm tù binh. Trên 50% lính phá rào chạy thoát cùng với 1 sỹ quan đã được ông Tâm ủy nhiệm dẫn anh em chạy.
Vì là sỹ quan thủy quân lục chiến cao cấp nhất trong nhóm, lại không chịu cộng tác nên đại úy Tâm được coi là tù binh, bị tách riêng và giải đi 10 ngày 11 đêm đường bộ vào Quảng Bình rồi đưa lên xe ra Hà nội.
Suốt từ đầu tháng 4-1972 anh hoàn toàn biệt lập, giao về ở chung với các tù binh VNCH bị bắt ở Hạ Lào. Ðến 1973 cũng không được trao trả tù binh theo Hiệp Ðịnh Paris.
Cộng sản nói là miền Nam nếu muốn thì phải nói chuyện với Pathet Lào. Ðã có lúc anh bị đưa vào Hỏa lò Hà Nội rồi lại đưa lên miền Bắc. Ðến 1975 anh củng vẫn không được đưa về cùng trại với các sỹ quan tập trung cải tạo. Vì không ở chung với anh em nên anh chàng pháo binh thủy quân lục chiến hết sức cô đơn và hoàn toàn không có tin tức gì về thế giới miền Nam. Chỉ biết sống với đói rét. Vợ anh ở nhà không biết tin tức gì để thăm nuôi. Nghe đồn chồng đã chết ngay từ tháng 4-72 tại căn cứ Carroll.
Nhưng nàng không tin và vẫn chờ đợi. Hai vợ chồng mới cưới, chưa có con, bà xã làm cho Hội Việt Mỹ Saigon, năm 1975 đã có giấy cho cả nhà ra đi nhưng vẫn cố ở lại với hy vọng. Lúc đó anh bị giam ngoài Bắc chẳng hề biết tin tức gì về cuộc di tản tại Saigon. Tuy nhiên, con người vẫn có phần số riêng. Năm 1978 một số anh em cấp úy diện tù binh được đưa vào miền Nam ngay tại trại Suối Máu.
Lúc đó anh mới tìm cách báo tin về cho gia đình.
Tuy nhiên, ngay đến lúc được tha cũng không biết trước. Anh phải tự lần mò tìm đường về. Về đến Sài gòn, bỏ gói đồ đầu ngõ, lén đi qua nhà. Anh em bạn tù chỉ dẫn. Mày rình bên ngoài, ngó vào nhà thấy người lạ, có nón cối, thì đi ngay chỗ khác chơi cho khỏi bẽ bàng.
Anh Tâm làm đúng như lời dặn. Thấy trong nhà không có nón cối. Thấy vợ còn ngồi với bố mẹ. Anh bèn quay lại đầu ngõ để lấy túi xách. Yên tâm trở về.
Ông bố nói rằng: “Ai như tao thấy bóng thằng Tâm trở về.
Hóa ra Tâm về thật.
Bây giờ ở đọan cuối thì chuyện nhà ai cũng tương tự.
Ông bà HO 5 (1991).
Cô vợ của Hội Việt Mỹ một thời vẫn chung thủy chờ đợi anh. May quá, chỉ xa cách có 6 năm. Xem ra từ lúc nhập ngũ 62 đến 72 là 10 năm pháo thủ cho thủy quân lục chiến.
Lại không chịu treo cờ trắng đầu hàng mà chỉ bị tù binh 6 năm cũng là nhẹ. Anh không cho rằng vì cộng sãn nhân đạo đối với cá nhân. Tất cả là nhờ ơn Thiên Chúa. Cả nhà anh theo đạo gốc. Ðức tin giữ cho anh sống để chờ đoàn tụ. Ðức tin cũng giữ cho vợ anh sống để chờ đoàn tụ. Anh phải sống thêm 3 năm biệt lập ở kinh tế mới Hố Nai.
Trốn tránh đi theo phục quốc nhưng chuyện bất thành. Sau xoay được hộ khẩu Sài Gòn, mười năm nội trợ nuôi con cho vợ đi làm. Dù sống khó khăn nhưng rồi vợ chồng cũng HO được hai con trai qua Mỹ năm 91. Các cháu học hành đỗ đạt, có nghề chuyên môn vững chắc. Cha mẹ cũng vậy. Chuyện cũ bao năm qua anh không hề nhắc đến một lần. Ðời binh nghiệp vẫn cảm thấy lẻ loi, cô đơn như 37 năm về trước. Những ngày bị bắt, rồi bị xếp loại tù binh Hạ Lào hết sức vô lý. Ðại úy Tâm dè dặt tâm sự. Dù vậy, anh cũng có đôi điều muốn nói thêm. Anh cảm ơn sự chờ đợi thủy chung của bà xã. Hoàn cảnh của chị cũng hết sức đặc biệt. Ða số vợ con người ta đều biết tin để thăm nuôi. Riêng anh Tâm của chị hoàn toàn không có tin tức ngay từ tháng tư năm 1972. Hiệp định Paris 1973 đem lại chút hy vọng mong manh nhưng rồi lại tuyệt vọng. Có tin anh đã chết tại Carroll. Lại có tin anh đầu hàng đi theo cộng sản. Từ 72 cho đến 75, miền Nam sống trong cơn hồng thủy nên gia đình cũng chẳng nhận được tin tức. Cho đến khi người tù thực sự trở về. Chị vẫn tiếp tục giữ các kỷ niệm của anh cho đến ngày nay. Ngồi bên người vợ đã tuyên hứa một đời theo thánh lễ, anh nói lời cảm ơn vợ hiền qua điện thoại để xin niên trưởng viết thành câu, in thành chữ cho nhà em đọc.
Đoạn cuối một chuyện tình.
Phần thứ hai có thể còn quan trọng hơn khi anh hết sức ca ngợi các sỹ quan và binh sĩ Thủy quân lục chiến của pháo đội B rất nhỏ bé gần như bị bỏ quên tại căn cứ Carroll từ tháng 3 năm 1972. Cũng là lính mũ xanh, cũng mặc áo rằn mầu biển, những anh lính trẻ thủy quân lục chiến cũng xâm trên tay hai chữ Sát Cộng và trong ngực đủ 4 chữ Thương nhớ mẹ hiền. Những cậu lính vừa tròn 18 tuổi, chết không sợ, nhưng rất sợ bị địch bắt. Sát Cộng mà đầu hàng thì quê biết chừng nào.
Ngày 2 tháng 4-1972, trong khi toàn thể căn cứ Carroll đều bỏ súng, treo vải trắng, chuẩn bị đầu hàng thì riêng 100 TQLC của pháo đội B vẫn cầm súng. Tất cả đều đồng ý với anh là không đầu hàng. Dù sau đó không phải là pháo đội đã chiến đấu hy sinh cho đến người lính cuối cùng như bài tuyên dương huyền thoại của trung tá Camper. Sự thực một nửa vượt rào chạy thoát, một nửa bị bắt. Các sĩ quan của pháo đội B đều ở lại để lính phá rào vượt trại. Ngoại trừ một trung úy dân miền Trung, được anh ủy nhiệm phải tìm mọi cách đi thoát để báo cáo cho lữ đoàn. Nhưng sau cùng anh sỹ quan này cũng bị bắt trở lại.
Ðại úy Tâm còn nhớ như mới hôm qua, khi anh họp đơn vị báo tin trung đoàn đầu hàng, nhưng anh quyết định Thủy quân lục chiến sẽ không hàng. Pháo thủ của anh đều biết rằng cả trại gần 2000 binh sĩ đều bỏ súng thì 100 lính mũ xanh ăn nhằm gì. Ðịch bao vây chung quanh. Hơn 40 đại bác 130 và 122 của cộng sản đã bắn mở màn vào ngày 30 tháng 3. Súng lớn của bên ta hoàn toàn vô dụng vì các tiền đồn làm hàng rào phòng thủ đã rút hết. Vả lại, pháo đội B chỉ toàn súng 105 ly chẳng giúp gì cho cận chiến. Hàng ngũ sĩ quan cán bộ toàn thiếu úy mới ra trường. Ai biết gì đâu mà góp ý kiến.
Chính trong cái giây phút đó, tình chiến hữu của đơn vị, làm anh nhớ mãi đến hôm nay. Rất bình tĩnh và cương quyết, anh em hoàn toàn trông cậy vào ông đại úy Bắc kỳ di cư 54. Trong tinh thần đó, anh đã quyết định không hàng. Pháo đội B chạy thoát được một nửa. Một nửa bị bắt, nhưng được gọi là tù binh, không phải là hàng binh, vẫn còn vinh quang một chút cho mầu cờ sắc áo.
Anh muốn nhắn tin và hỏi han từng người một, nhưng mà suốt 37 năm qua sao chẳng gặp ai. Pháo đội B, TD 1 PB/TQLC của Camp Carroll 1972, ai còn nghe được tiếng gọi năm xưa, xin hãy đáp lời.
“Ðây là Bẩy Sài Gòn, pháo đội trưởng, pháo đội B thành Carroll, các anh có nghe tôi rõ không? Trả lời...”
Thiếu tá TÔN THẤT MÃN
Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1/56/SĐ3/BB
Sau mấy tháng hành quân yểm trợ công tác bình định và trấn giữ một số căn cứ vùng Gio Linh, vào hạ tuần tháng 3/72, Tiểu đoàn 1/56 được về dưỡng quân và làm trừ bị cho Trung đoàn tại căn cứ Ái Tử - nơi đặt bản doanh BTL/ SĐ3 BB. Sau khi sắp xếp bố trí mọi công việc cho đơn vị, chiều 29/3/1972 Thiếu tá Tôn thất Mãn, Tiểu đoàn trưởng vào thăm nhà ở Huế để nhìn mặt đứa con gái vừa sinh mấy tháng.
Đêm 30/3, vừa chợp mắt một lúc, nghe tiếng điện thoại reo, đầu dây là giọng của Trung tá Đính - Trung đoàn trưởng, ra lệnh phải ra gấp Ái Tử để đưa Tiểu đoàn lên căn cứ Tân Lâm.
Sáng 31/3/1972, đơn vị được xe chở đến Chi Khu Cam Lộ và từ đây, hành quân bộ lên căn cứ. Áp lực địch lúc này rất nặng, một vành đai lửa dậy lên từ căn cứ C1 ở phía Bắc, đến căn cứ Phượng Hoàng ở Tây Nam, nhiều tiền đồn đã phải di tản, địch đang dồn hỏa lực để đập nát Tân Lâm ... Tiểu đoàn được lệnh bố trí quân tại ngọn đồi phía Bắc để cùng với Tiểu đoàn 3/56 đang trấn giữ Khe Gió hình thành một tuyến phòng ngự trên Quốc Lộ 9, sau khi căn cứ Fuller bị tràn ngập.
Ngày 1/4, Thiếu tá Mãn lại nhận được lệnh dẫn BCH Tiểu đoàn và một Trung đội vào ngay Trung tâm để bảo vệ BCH Trung đoàn. Tân Lâm lúc này như một biển lửa, Thiếu tá Mãn, bàn giao công việc cho Đại úy Đỗ Triền - Tiểu đoàn phó - vất vả lắm, đến 3 giờ chiều toán quân này mới đến được vị trí quy định. Trung tá Đính cho anh biết sơ qua tình hình: Hỏa lực cơ hữu tại đây rất hùng hậu, nhưng không hoạt động được vì bị pháo địch kềm chế, hỏa lực yểm trợ không có, đặc biệt là không quân.
Sáng mồng 2/4, Trung tá Đính triệu tập cuộc họp Ban Chỉ huy Trung đoàn và các Đơn vị trưởng tăng phái gồm có:
- Trung tá Phạm văn Đính - Trung đoàn trưởng
- Trung tá Vĩnh Phong - Trung đoàn phó
- Thiếu tá Thuế - Pháo Binh, phụ tá hỏa lực
- Thiếu tá Tôn Thất Mãn - Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1/56
- Đại úy Hoàng Quốc Thoại - Trưởng ban 3
- Đại úy Nhơn - Trưởng ban 2
- Đại úy Hoàng Trọng Bôi - Pháo đội trưởng 175
- Đại úy Nguyễn văn Tâm - Pháo đội trưởng TĐ1/PB/TQLC.
- Trung úy Lê Văn Kiểu - Pháo đội 105
- Thiếu úy Thái Thanh Bình - Chi đội trưởng Thiết Giáp
- …………….
Sau khi nêu tình hình nguy ngập của căn cứ sau 3 ngày bị pháo hủy diệt, mặc dầu chưa có bộ binh địch tấn công, nhưng khả năng của đơn vị trú phòng không thể cầm cự lâu dài, viện binh, không yểm không có, ông Đính đã trình với Tướng Giai và được trả lời toàn quyền quyết định, tiếp đó ông đưa ra 3 hướng giải quyết để mọi người lựa chọn:
1. Tử thủ, chiến đấu đến giây phút cuối cùng
2. Mở đường máu để rời khỏi căn cứ
3. Đầu hàng
Bên ngoài pháo địch bắn liên hồi, nhưng trong phòng họp im phăng phắc. Mọi người đang chờ đợi một quyết định lịch sử, bỗng người ta nghe một giọng nói vang lên - Chậm, rõ ràng nhưng cương quyết:
- Tôi chọn một trong 2 điều trước và bác bỏ điều thứ 3. Tôi không chấp nhận đầu hàng.
Mọi người cùng nhìn về phía phát ra tiếng nói ấy: Thiếu tá Tôn Thất Mãn. Nhưng ý kiến của anh như tiếng vọng giữa sa mạc, chẳng ai quan tâm như trong hồi ký của Đại Tá Turkley - Cố Vấn Sư Đoàn TQLC - có kể rằng khi vị Cố vấn đề nghị sử dụng Chi đội M - 41 làm mũi tấn công mở đường máu, thì ông Đính trả lời: “Tất cả sĩ quan đã đồng thuận đầu hàng!” Thiếu tá Mãn đâu biết rằng ngay đêm trước ông Đính đã tìm cách liên lạc với Chỉ huy Trung đoàn Pháo Bông Lau để trình bày ý định của mình. Vị Tiểu đoàn trưởng gọi máy thông báo sự việc và chia tay với Đại úy Triền, đồng thời để ông tùy nghi giải quyết !
Ngay từ giây phút ấy, cuộc đời binh nghiệp oai hùng của anh khép lại để bước vào một giai đoạn trầm luân khổ ải và chính câu nói khẳng khái ấy đã là nguyên nhân để anh bị đày đọa gần 12 năm trong các trại tù từ Bắc chí Nam !
Như bao chàng trai cùng thời, người con xứ Kim Long hiền hòa cũng đã " xếp bút nghiên theo việc kiếm cung ", theo học Khóa 12 tại trường Bộ binh Thủ Đức Tháng 10/62, mãn khóa, phân bổ về Sư đoàn 25 Bộ binh. Cuối năm 1963, về Huế cưới vợ - người tình của tuổi học trò năm nào, lúc chàng học Bán Công, nàng học Bồ Đề.
Sau 3 năm chiến đấu tại chiến trường miền Nam, năm 1965, anh xin thuyên chuyển về nguyên quán, lúc này anh chị có đứa con đầu lòng. Phục vụ tại Trung đoàn 54/ SĐ1/ BB với cấp bậc Trung úy Đại Đội trưởng hoạt động vùng La Sơn, Tây Nam Huế.
Tháng 6/1967, qua làm Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 2/3, Tiểu đoàn trưởng là Thiếu tá Phạm văn Đính, phụ trách khu vực Phong Điền, Quảng Điền, ông Đính kiêm luôn Chi khu trưởng Quảng Điền.
Ngày 30 Tết Mậu Thân, anh về nhà nhưng buổi chiều vô lại đơn vị. Đêm hôm đó Cộng quân xâm nhập thành phố, cứ tưởng anh còn trong nhà, chúng ra lệnh cho mẹ và vợ anh đi tìm để giao nạp, nếu không sẽ bị giết. Cộng quân vào nhà không thấy anh, chúng dẫn chị đến nơi hành quyết, nhưng hai đứa con khóc quá, đành cho về. Lúc đó TĐ 2/3 đang ở Xước Dủ, Hương Trà, được lệnh hành quân về thành phố để bảo vệ BTL/SĐ, đơn vị được tàu Hải quân vận chuyển từ Trường Kiểu Mẫu, men theo Cồn Hến vào Cửa Trài, Mang Cá và từ đó xuyên qua Thành Nội đánh ra cửa Thượng Tứ. Chính TĐ này có vinh dự hạ cờ VC và kéo cờ vàng lên tại cột cờ Phú Văn Lâu, cụ thể là do binh sĩ Đại đội 3/2/3 của Đại úy Huỳnh Quang Tuân.
Sau chiến thắng này, anh được Quân Đội Hoa Kỳ gắn Huy Chương Anh Dũng Bội Tinh Ngôi Sao Đồng. Do thành quả của những chiến công đã đạt được và để tạo điều kiện trau dồi thêm khả năng chỉ huy và tiến thân, đầu năm 1970, anh được cử đi học Khóa Chỉ Huy và Tham Mưu tại Đà Lạt, giữa năm được thăng cấp Thiếu tá. Đầu năm 71, tham dự hành quân Lam Sơn 719 là đơn vị dự bị cho Trung đoàn giữ an ninh khu vực Tà Cơn, Lao Bảo. Sau đó, anh được đưa ra Trung đoàn 2, làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 5/2.
**********
Sau hành quân Lam Sơn 719, Bộ Tổng Tham Mưu xét thấy tình hình chiến sự tại Vùng I ngày càng sôi động, có nhiều chỉ dấu Cộng quân gia tăng áp lực để có những hoạt động qui mô trong tương lai và để giữ những khu vực mà quân đội Mỹ bàn giao lại, do đó đã trình Bộ Quốc Phòng để thành lập riêng vùng Hỏa tuyến Quảng Trị, một đơn vị cấp Sư đoàn nhằm hình thành phòng tuyến bảo vệ vững chắc khu vực chiến lược quan trọng này, đồng thời tạo vòng đai an toàn để các đơn vị địa phương làm tốt công tác Bình Định Nông Thôn.
Sau một thời gian chuẩn bị, ngày 1/10/1971, Sư đoàn 3 được thành lập, đặt Bộ Tư Lệnh tại căn cứ Ái Tử, cạnh chùa Sắc Tứ nơi mà 413 năm trước Chúa Tiên Nguyễn Hoàng từ Thăng Long vào dừng lại đặt bản doanh gọi là Dinh Cát làm đầu cầu mở mang bờ cõi vào phía Nam sau này.
Trung đoàn 2 của SĐ1 đang có mặt thường xuyên tại khu vực hỏa tuyến được giữ lại làm nồng cốt, chủ lực cùng với 2 Trung đoàn Tân Lập 56 và 57 Tiểu đoàn 5 của Trung đoàn 2 được tách ra, làm căn bản để thành lập Trung đoàn 56, như thế, đơn vị và chức vụ của Thiếu tá Tôn Thất Mãn bây giờ là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1/56/SĐ3 BB.
Sáng 2/4/1972, sau khi Trung tá Đính thông báo lệnh đầu hàng, ngoài Thiếu tá Tôn Thất Mãn, còn 2 sĩ quan khác chống lại (sau khi trở về đơn vị của mình), đó là Đại úy Nguyễn văn Tâm - Pháo đội trưởng B/TĐ1/PB/TQLC và Thiếu úy Thái Thanh Bình - Chi đội trưởng Thiết đoàn 11 Kỵ Binh. Ngay giờ phút ấy, Cố vấn Trung đoàn liên lạc được với trực thăng đang tiếp tế cho căn cứ Mai Lộc đã đáp xuống để bốc 2 vị này, một số chiến sĩ VNCH lên theo, trong đó có Thiếu úy Bình.
Lúc này Trung tá Đính ra lệnh Đại úy Nhơn - Trưởng ban 2, cởi chiếc áo lót màu trắng ra treo trước cổng để làm tín hiệu chấp nhận đầu hàng (chuyện cờ trắng như vừa trình bày là do Thiếu tá Mãn kể, nhưng theo Thiếu tá Hà Thúc Mẫn được Đại úy Hoàng Quốc Thoại - Trưởng Ban 3 thuật lại lúc cùng nhau ở trong tù thì Trung tá Đính lệnh cho Trung sĩ Sừng xé tấm drap trải giường làm đôi. Trong một bài tùy bút của Nguyễn Thắng - phóng viên chiến trường Quân Đội BV cũng viết như thế: “Sau khi sai lính lấy tấm vải trắng trải giường nằm, kéo lên cột cờ, anh Đính đã gọi cho chúng tôi : Alô, Bông Lau đâu, đã trông thấy cờ trắng chưa ?”).
Làm đúng theo điều kiện của cấp chỉ huy Trung đoàn 38, Pháo Bông Lau, mọi người đi theo hàng đôi ra hướng Quốc Lộ 9 theo thứ tự cấp bậc Tá - Úy - Hạ Sĩ Quan ..., bốn vị cấp Tá được tách riêng để khai thác và tuyên truyền.
Sáng 3/4, tất cả bị áp tải ra Bắc, chiều tối, lúc đến Bến Than, Bến Tắt chuẩn bị vượt sông Bến Hải thì anh Mãn cùng một số khác đã tìm cách bỏ trốn, tuy nhiên lúc này địch quân đã tràn ngập khắp nơi và có lẽ đã được báo động để lùng sục, nên sau 5 ngày đào thoát, anh bị bắt lại ... Riêng Đại úy Nhơn - Trưởng ban 2 trốn được, lần tìm về khu vực Ái Tử, có hành động gì đó làm cho các chiến sĩ TQLC nghi ngờ, tạm giữ rồi chuyển giao cho Sư Đoàn, sau đó đưa vào Sở 1 An Ninh Quân Đội tại Đà Nẵng, có những ẩn khuất nào đó không ai biết hay do anh Nhơn là người cầm cờ trắng ra trước cổng căn cứ Tân Lâm để làm tín hiệu chấp nhận đầu hàng ?
Đoàn tù và hàng binh đi bộ 10 ngày đến Quảng Bình, tại đây có xe đưa ra Thanh Hóa và lên tàu đến trại giam Bất Bạt, Sơn Tây, thời gian này liên tục bị hỏi cung, viết bản tự khai, kiểm điểm. Đặc biệt là công an bắt tất cả những sĩ quan có đi du học Mỹ phải tường trình đầy đủ những gì đã lãnh hội được và giao cho ông Đính tổng hợp trình lên chúng.
Trong khoảng thời gian này, lãnh đạo trại giam mở đợt vận động tuyên truyền, kêu gọi tất cả sĩ quan đứng lên tự giác từ bỏ lý lịch căn cước QL/VNCH để trở về với Quân Đội Nhân Dân. Thiếu tá Tôn Thất Mãn đã khí khái quyết liệt phản đối chiêu bài này. Khi được trực tiếp đặt vấn đề, anh nói với tên Thiếu tá phản gián Nguyễn Phương: “ Ngay từ lúc ở căn cứ Tân Lâm, tôi đã chống lại việc đầu hàng của Trung đoàn trưởng, mặc dầu mọi người đều im lặng, nhưng lúc đó tôi không nghĩ đến sự an nguy của tính mạng mình và đã chống đối đến cùng. Đời lính thắng bại là chuyện thường tình, bây giờ tôi sa cơ thất thế bị các ông bắt, hãy xem tôi như là một tù binh chiến tranh, tôi hoàn toàn chấp nhận vị trí ấy, tôi luôn luôn trung thành với lý tưởng mà tôi đã phụng thờ : TỔ QUỐC - DANH DỰ - TRÁCH NHIỆM, đồng thời tôi không phản bội những chiến hữu dưới quyền đã hy sinh”.
Tên Thiếu tá lên tiếng: “ Tôi được phân công xuống giúp đỡ anh, tạo điêu kiện cho anh trở về với cách mạng, phục vụ nhân dân, lập công chuộc tội, nhưng anh vẫn ngoan cố, đó là quyền của anh, có gì đừng ân hận. Tôi sẽ báo cáo với trên”.
Sau hôm ấy, anh bị đưa đi giam riêng, được một thời gian, chúng chuyển anh xuống Hỏa Lò Hà Nội, nhốt vào xà lim.
Trong lúc thân phận anh như thế, ở bên ngoài, CSBV tổ chức một buổi lễ rầm rộ cho ông Phạm văn Đính và ông Vĩnh Phong đăng đàn, nêu lên những tội ác và sai lầm khi theo " Đế quốc Mỹ " dày xéo đất nước và nay thấy rõ đường lối chính đáng của Cách mạng nên đã đem Trung đoàn về với nhân dân, xin được đứng trong hàng ngũ Quân Đội Nhân Dân để chống lại kẻ thù xâm lược !
Cả hai ông Đính và Phong đều được giữ nguyên cấp bậc Trung tá và hưởng lương từ tháng 4/1972. Theo chỉ thị của chính quyền CS, ông Đính viết lịch sử miền Nam, phân tích nghệ thuật và hình thái tác chiến của QL/VNCH. Ngoài ra, còn có những ký sự để tuyên truyền xuyên tạc và ca ngợi chính quyền miền Bắc như : “ Saigon - Phủ Đầu Rồng ", " Cây Đa Bến Cũ ", " Một cái gì mới " . Tháng 4/1994, cả hai ông ra Hà Nội để được gắn lon Thượng tá và Huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng nhất !
Hai ông Đính và Phong trong buổi lễ của CSBV
Những ngày tháng nằm trong xà lim, anh không đau đớn cho thân xác bởi cực hình và thiếu đói, mà xót xa nhiều điều: Mười năm lính, lúc ở Sư đoàn 25 BB, tình hình tương đối yên tĩnh, chủ yếu là lo công tác an ninh, bảo vệ dân chúng an tâm làm ăn trong những vùng xa thường bị địch quân về quấy rối ... Nhưng khi được trở về chiến đấu trên quê hương Trị Thiên là thời kỳ gian khổ, ác liệt nhất ... Bước chân anh đã đi qua mọi miền từ Lăng Cô, Bạch Mã đến Gio Linh, từ đồng bằng ven biển đến biên giới Lào Việt, kể cả những lúc tác chiến trong thành phố.
Có những thời khắc, mạng sống như nghìn cân treo sợi tóc, phải chiến đấu để chiếm từng thước đất, ngọn đồi, từng bờ tường, con phố, nhưng bằng mưu trí và sự can trường, anh đã dẫn đơn vị đi qua và chiến thắng, đôi khi có những tình huống hết sức nghiệt ngã! Thế mà đến đầu tháng 4/1972, đó chưa phải là giờ thứ 25 của cuộc chiến, tại một căn cứ hỏa lực hùng hậu, có ưu thế phòng thủ với trên 1000 tay súng và một Ban Chỉ huy dày dạn chiến trường …. và anh, một người chỉ huy tác chiến … Tất cả chưa bắn một phát súng nào, chưa có đơn vị bộ binh nào của địch xuất hiện, cũng không có lời kêu gọi áp đảo tinh thần, mà chỉ mới là những quả đạn pháo binh được bắn vào căn cứ liên tục, đồng ý là địch có ưu thế hỏa lực, áp dụng chiến thuật phong lôi, cả một Trung đoàn Pháo cùng lúc bắn vào mục tiêu, nhưng như thế chưa phải là hoàn toàn bế tắc, để không thể tổ chức chiến đấu, thế mà chúng tôi đã phải buộc lòng quy giáp đầu hàng.
Đầu hàng ! Tại sao lại như thế. Động cơ nào? Đó là câu hỏi nhức nhối dày xéo tâm can anh! Anh cũng đã thẳng thắn nói ra những ý nghĩ ấy cho đối phương là Nguyễn Quý Hải, tác giả của hồi ký Mùa Hè Cháy, nguyên Tiểu đoàn trưởng Pháo Binh thuộc Trung đoàn Bông Lau, đơn vị trực tiếp gây áp lực buộc Trung đoàn 56 đầu hàng. Trong quyển sách này, tác giả kể lại cảm nghĩ của Thiếu tá Mãn về sự thất bại của Trung đoàn56 trước sức tấn công như vũ bão của Trung đoàn 38 Pháo Bông Lau, Thiếu tá Mãn đã trả lời: “ Tôi hết sức ngạc nhiên, không thể tin nổi là số phận của một căn cứ hỏa lực mạnh nhất Quân Đoàn đã được quyết định chỉ trong vòng năm phút !” Hôm nay anh vẫn xác nhận như thế và trình bày thêm: “Sau khi tuyên bố 3 hướng giải quyết, ông Đính đã không có sự thảo luận với tất cả sĩ quan có mặt và sau lời phản đối của anh Mãn, ông Đính liền ra lệnh Đại úy Nhơn cởi áo lót làm tín hiệu ...”.
Quả thật lúc này chúng ta mới biết 3 cách giải quyết được đưa ra như là một thông báo, chứ không phải để bàn bạc, bởi vì mọi chuyện đã được quyết định và Trung tá Đính không có thì giờ !
Trong bài viết: " N+3 Một Ngày Oanh Liệt ", Đại tá Cao Sơn - Trung đoàn trưởng Pháo binh Bông Lau ghi lại cuộc nói chuyện và những điều kiện ông ra lệnh cho Tr. Tá Đính: " ... Yêu cầu tuân thủ nghiêm những quy định sau :
1. Kéo cờ trắng lên
2. Bắt hai tên Cố Vấn Mỹ cùng ra hàng
3. Để nguyên vũ khí, phương tiện chiến đấu tại chỗ. Cả chỉ huy và binh sĩ đứng trên mặt đất, xếp hàng đôi đi theo con đường duy nhất tới Đầu Mầu, sẽ có người đón. CHÚNG TÔI NGỪNG BẮN 30 PHÚT ĐỂ CÁC ANH CHẤP HÀNH NHỮNG QUY ĐỊNH TRÊN " .
Hình Th.T Mãn tại căn cứ Tân Lâm trong ngày 2-4-1972
(người đội nón sắt chụp chính diện)
Anh kể chuyện tôi nghe, trong bao năm cận kề chiến đấu, vào sinh ra tử bên nhau với Trung đoàn trưởng, anh đã có sự liên hệ thân tình, kính mến. Phút cuối ở Tân Lâm, có thể có những lý do thầm kín nào đó để ông Đính đưa đến quyết định tai hại ấy! Lòng anh có đôi chút thông cảm, tuy nhiên, qua những việc ông cư xử với anh em trong trại tù, cũng như sự hăng say hợp tác với đối phương sau này làm anh thất vọng, bao nhiêu niềm tin và sự kính phục đã không còn nữa!
Khi còn ở trong tù năm 1973, mọi người được biết về Hiệp Định Ngưng Bắn, trao trả tù binh, riêng cá nhân anh và Thiếu tá Thuế Pháo Binh không được nằm trong danh sách ! Các anh đặt vấn đề với cán bộ trại, được trả lời là sẽ đề đạt lên cấp trên giải quyết, nhưng chẳng bao giờ nhận được câu trả lời ! Cho đến năm 1975, khi nghe tin miền Nam mất, tất cả đều nghẹn ngào, chua xót, cùng bảo với nhau: Thế là hết ... đất nước mất, Quân Đội mất, chúng ta không còn gì để nương tựa, để trở về !
Cuối năm 1975, từ Bất Bạt Sơn Tây, anh bị đưa lên giam tại Cao Bằng, năm sau lại chuyển qua Sơn La, lúc này Bắc Việt cũng đã ồ ạt đưa những sĩ quan QL/VNCH từ miền Nam ra Bắc - đây là những trại tù khổ sai khủng khiếp đã được nhiều người nhắc đến.
Đầu năm 1979, trước khi Trung Cộng mở đợt tấn công qua biên giới, chúng lại chuyển các anh về trại Đầm Đùn Sơn Tây.
Ở đây cho đến năm 1981, được đưa về Nam, giam tại trại Z30D cho đến cuối năm 1983, anh mới được trả về với gia đình !
Tính từ tháng 4/1972 đến lúc ấy, thân xác anh bị đày đọa gần 12 năm trong những trại tù nổi tiếng ác độc nhất. Công bằng mà thấy, sau 30/4/1975, một vị Tiểu đoàn trưởng bị giam khoảng 10 năm, nhưng Thiếu tá Mãn - Tiểu đoàn trưởng TD 1/56/SĐ3/BB đã phải trải qua thời gian trong lao lý dài như thế, chỉ vì một câu nói bất khuất !
Khi trở về, anh phải tạm trú với mẹ ở Kim Long bởi vì sau 1975, vợ anh bỏ căn nhà thuê ở Huế, về nương náu quê ngoại tại Long Thọ. Cô nữ sinh năm nào bây giờ chân lấm tay bùn với đồng ruộng !
Những tưởng đất nước đã thống nhất, hòa bình lập lại, các anh sẽ được đối xử công bằng sau thời gian " đền tội " trong tinh thần hòa hợp dân tộc như đã được nghe cán bộ tuyên bố trước lúc ra trại . Nhưng không, trong mấy tháng đầu, hàng đêm chúng bắt anh phải đến Trạm Công an xã để ngủ và sau đó anh được " biên chế " vào tổ khai thác đót (một nguyên liệu để làm chổi ) tại núi rừng Tây Thừa Thiên với chỉ tiêu MỘT TẤN mỗi ngày ! Không chịu nổi sự kham khổ cực nhọc, đày đọa đủ điều, tháng 7/1984, anh trốn vào Nam, xin đi làm thuê tại một Công Ty Cao su ở Đồng Nai tại ấp Cấp Ráng ... Cũng tưởng là sẽ được bình yên ở vùng đất xa lạ này, nhưng lam sơn chướng khí và những loài rắn độc đã ngày đêm đe dọa, tấm thân ốm yếu bây giờ thêm còm cõi !
Bà chị ruột cầm lòng không đậu trước hoàn cảnh bi thương ấy, đã cưu mang anh đem về Saigon, chăm sóc, bồi dưỡng và hàng ngày phụ với đứa cháu có nghề sửa xe ... anh sống âm thầm, lặng lẽ như thế giữa Saigon náo nhiệt, cứ nghĩ mình là kẻ sống ngoài lề và bị xã hội bỏ quên !
Nhưng niềm vui lại đến khi nhân dân và chính phủ Hoa Kỳ bảo trợ cho những tù nhân chiến tranh bị CS giam giữ. Một lần nữa, bà chị của anh lại phải chạy đôn chạy đáo tốn kém tiền bạc để lo cho anh đầy đủ giấy tờ hợp lệ để được định cư tại Mỹ. Hồ sơ HO 29 của anh đã được phái đoàn Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ xét duyệt đôn lên HO 22 và anh đến Mỹ năm 1994.
Anh Mãn tâm sự: Tôi tuổi Mậu Dần, cầm tinh con Cọp, mà con cọp thì bao giờ cũng chỉ đi một mình, có khi nó là chúa sơn lâm. Ngẫm nghĩ lại, cuộc đời tôi cũng thế, lúc nào cũng cô đơn, mặc dầu ở chỗ đông người ! Tôi không có cái vinh quang của con cọp, mà đơn độc trong những tình huống đôi khi quá oan nghiệt, ngay cả lúc đứng giữa những người gọi là chiến hữu ! Tôi cũng đã ở trong rừng, nhưng không phải để " cất vang tiếng thét " mà bị dẫn đi từ trại tù đến một căn chòi lá vào lúc 1,2 giờ sáng, dưới ngọn đèn leo lét, mặt đối mặt với tên công an thẩm vấn ! Cũng thế, với cây rựa trong tay, một mình cùng rừng đót ngút ngàn hoặc với những cây cao su ngang dọc thẳng tắp ! Tưởng chừng như Con Cọp Cầm Tinh mệnh số của anh chẳng bao giờ thét, nhưng thật ra anh đã dùng ý chí để nói với Tổ Quốc và bạn bè chiến đấu anh dũng bên cạnh anh rằng: Anh đã nghĩ đúng và làm đúng những gì anh nghĩ để không thẹn lòng và thẹn với non sông. Chẳng có điều gì làm anh ân hận, cho đến bây giờ, anh vẫn nhớ và thực hành đúng bài học địa hình căn bản ở Trường Bộ Binh Thủ Đức 47 năm trước: Luôn luôn phải xác định điểm đứng. Phải xác định vị trí mình đang đứng để biết bạn đang ở đâu, địch đang ở đâu, để có những quyết định chính xác. Hậu quả của những quyết định ấy đôi lúc là tai hoạ, nhưng vượt qua được, ta cảm thấy trưởng thành hơn, đúng đắn với lý tưởng mình phụng thờ và nhân cách đạo lý đã được giáo dục.
Có người bảo là mình bị quân đội bỏ quên, tôi thì không bao giờ có ý nghĩ ấy bởi vì ngay lúc này, mỗi cá nhân chúng ta đã là quân đội, phải làm sao để xứng đáng với tên gọi linh thiêng ấy, mặc dầu hình tướng tổ chức không còn !
Những buổi tối lái xe về nhà ở Baton Rouge, Louisiana sau 14 giờ với hai công việc nặng nhọc khác nhau, lòng tôi dâng lên bao nỗi ngậm ngùi khi nghĩ đến Mẹ tôi, người có tấm lòng biển cả rộng lượng vô biên. Những lúc canh khuya thức giấc, nghe tiếng sóng vỗ bên này mà nhớ đến Mẹ già bên kia bờ đại dương quay quắt. Từ ngày rời ghế nhà trường đến nay, tôi chưa bao giờ có được một khoảng thời gian bình yên thật trọn vẹn để chăm sóc bà, mà ngược lại, tôi luôn luôn là nỗi nhớ thương, lo lắng, trông ngóng trong lòng bà kể từ khi tôi bước chân vào những ngày binh lửa, rồi gian truân với những năm dài tù tội, đến quãng đời lao động cực nhọc ở một xó xỉnh nào đó!
Năm nay bà đã 97 tuổi, sáng chiều đứng ngồi với một tâm trạng bồn chồn như thế trong căn nhà nhỏ của cô em út trong thành nội. Ở bên này tâm tôi cũng không yên, đôi khi thảng thốt vì một cuộc điện thoại từ Việt Nam, vẫn biết bây giờ Mẹ như cây đèn giữa khoảng không, chỉ cần một làn gió nhẹ … nhưng tôi lo sợ bàng hoàng nếu một ngày nào đó nhận được tin ấy.
Gia đình anh đến lúc này vẫn chưa hoàn toàn đoàn tụ, còn đứa con ở VN đợi ngày qua bên này định cư ... Bởi thế đã qua tuổi về hưu, anh vẫn gắng làm 2 jobs để ngoài việc trang trải chi phí ở đây, giúp thêm được phần nào hay phần đó cho những người thân ở quê nhà.
Tôi đã đọc “ Một Quân Đội Bị Bỏ Quên - Anh Hùng và Bội Phản " của Andrew Wiest và bài viết " Chàng Pháo Thủ Thành Carroll " của nhà văn Giao Chỉ . Cả hai tác phẩm đều nhắc về những nhân vật có liên quan đến Tân Lâm. Tôi khâm phục sự can trường, hy sinh cho thuộc cấp ngoài mặt trận và lẫm liệt, kiên cường trong trại giam của Thiếu tá Huế. Cũng là người lính, nhưng tôi cảm thấy bé nhỏ và tầm thường trước sự quyết đoán kịp thời, dũng mãnh bảo vệ sự an toàn cho anh em trong đơn vị của Đại úy Tâm - chàng Pháo thủ Cọp Rằn thành Carroll, không chịu đầu hàng, chấp nhận ở lại để chiến sĩ mình rút đi ... Nhưng đối với Thiếu tá Tôn Thất Mãn, sự cảm kích, ngưỡng mộ, kính phục và thương mến gấp nhiều lần hơn ! Bởi vị trí của anh hoàn toàn khác, rất đặc biệt. Anh đã thẳng thắn bày tỏ quan điểm, ý chí bất khuất của một Sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa: Cái dũng khí của một kẻ sĩ ngay trước mặt cấp chỉ huy và chiến hữu khi chống lại tư tưởng chủ bại, đầu hàng của những con người ấy, sau đó trên đường áp tải đã tìm cách trốn thoát, không chịu đội trời chung với Cộng sản và rất đáng phục, rất oai phong khi trong gông cùm của địch đã dứt khoát chối từ, bác bỏ luận điệu tuyên truyền dụ dỗ để quy phục, luôn luôn giữ tấm lòng sắt son với lý tưởng và đồng đội !
Tôi biết anh không cần thiết, bận tâm đến sự vinh danh, anh nói chỉ làm những việc bình thường của một người lính với tinh thần " Uy vũ bất năng khuất " !
Rất tiếc khả năng viết lách của tôi có hạn, nên không diễn bày được hết những oai hùng và đoạn đường gian khổ mà anh Mãn đã kinh qua ... Tôi cố gắng trong những gì có thể làm được với tất cả tấm lòng chân thật, để mọi người biết Quân Lực của chúng ta đã có một con người, một cấp chỉ huy minh định vững vàng, kiên cường lập trường trong mọi tình huống như thế.
Riêng cá nhân mình, xin trang trọng nói rằng: ANH LÀ NGƯỜI HÙNG CỦA TÔI.
LÊ VĂN TRẠCH
(Bản hiệu đính 2011)
Ghi chú của tác giả:
Đây là LỜI VIẾT CỦA CỰU CHUẨN TƯỚNG VŨ VĂN GIAI - TƯ LỆNH SƯ ĐOÀN 3 BỘ BINH gởi cho CỰU TRUNG TÁ NGUYỄN TRI TẤN sau khi đọc PHÚT CUỐI TÂN LÂM :
" Đính không nói với tôi trước khi đầu hàng mà chỉ nhờ Đại Tá Chung Tư lệnh phó chuyển lời chào từ biệt - vì ngày hôm đó tôi vào Huế gặp TT Thiệu ra thăm, tới chiều tôi về mới biết. Đính đầu hàng mà không ai báo cáo gì cho tôi cả ! Tôi đâu có cho Đính toàn quyền quyết định ! Tôi đã gặp ngay cố vấn của Đính được trực thăng bốc về và tôi đã nghe ông ta nói những gì đã xảy ra . Nếu tôi biết được tôi đã ngăn cản ".
STARS and STRIPES - Thursday, May 4, 1972
The Cost Of Being A General
HUE, Vietnam (UPI) --The commander of a South Vietnamese division routed in the fighting in Quang Tri Province issued an emotional letter Tuesday night claiming "full responsibility" for the retreat.
In what he called a "letter from the heart" to men of the 3rd Div. at Hue, Brig. Gen. Vo Van Giai declared:
"The capital of Quang Tri Province is in ruins. Our food, our ammunition and all our fuel supplies are gone. Our force is exhausted.
"I see no further reason why we should stay on in this ruined situation. I ordered you to withdraw in order to fortify our units again from a new front to annihilate remaining Communist forces if they still engage in this wrongful war."
The letter was unprecedented in the Vietnam conflict. In it, Giai declared, "I bear full responsibility for history and the law for this withdrawal."
Giai has set up a new headquarters base about 18 miles north of Hue, the former imperial capital on Highway 1, about 400 miles north of Saigon.
Ngày 4 – 5 - 72 trên tờ nhật báo Pacific Stars and Stripes của quân đội Hoa Kỳ, người ta đọc được bức thư của Tướng Giai bằng Anh ngữ, trong đó ông viết: “… Tôi chấp nhận hoàn toàn trách nhiệm trước lịch sử và pháp luật về cuộc triệt thoái này. Thị xã Quảng Trị đã hoang tàn đổ nát. Lương thực, đạn dược và nhiên liệu dự trữ đã cạn . Các đơn vị tác chiến đã quá mệt mỏi. Tôi thấy không còn lý do nào chính đáng để ở lại bảo vệ những hoang tàn đổ nát ấy. Tôi ra lệnh cho các đơn vị dưới quyền triệt thoái trong trật tự, để tái củng cố lực lượng, thiết lấp phòng tuyến và mặt trận mới, để tấn công lại đối phương, nếu chúng vẫn còn duy trì cuộc chiến tranh đầy sai trái này…"
*** chú thích
Tác phẩm Người anh hùng và kẻ phản bội, trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa(Heroism and Betrayal in The ARVN) Tác giả Andrew A. Wiest.
Cuốn sách này viết về 2 nhân vật của quân lực miền Nam. Ðó là thiếu tá Huế và trung tá Ðính.
Cả 2 ông đều đã ở Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 3 của Sư đoàn 1 Bộ binh( gọi tắt là TĐ 2/3 ) luôn Th/tá Tôn Thất Mãn cũng xuất thân từ đơn vị này. Là 1 trong 5 Tiểu đoàn thành lập đầu tiên của QLVNCH ,là đơn vị có nhiều vị Tướng đã từng chỉ huy Tiểu đoàn và DQY cũng may mắn về phục vu tại đây.
Nói thêm về những hành động bội phản hèn hạ của ông Đính : Ngay sau ngưng bắn 1973 ,khi trận chiến Cửa Việt xảy ra do VC vi phạm Hiệp định ,ông Đính đã bắt loa tuyên truyền ,kêu gọi anh em sỉ quan binh lính chúng ta bỏ hàng ngủ ,quay súng mà đi theo VC ,nhưng không một ai nghe theo.
Sau sụp đổ 04/75 ,ông Đính đã được VC đưa tới các trại tập trung tù gọi là cải tạo !! để mạt sát ,lên lớp dạy dổ anh em tù ,trong một buổi học chính trị ở trại tù Cồn Tiên ,Ái Tử ,ông Đính kể lại 1 câu chuyện về quảng thời gian trước ,khi ông còn là Tr/tá QLVNCH. Lúc đó ông Đính ngồi trên xe Jeep do anh H/sỉ tài xế lái từ Quảng Trị về Huế ,khi đến ngả ba Huế phải ngừng lại để kiếm soát do nhóm hổn hợp Quân cảnh Mỹ-Việt .Một anh Trung sỉ MP Mỹ đứng kế xe ,nhìn thấy cấp bậc Tr/tá của ông mà không chào. Ông Đíng bước xuống gọi anh chàng MP Mỹ và hỏi : Tại sao anh không chào kính tôi?
Anh MP Mỹ hỏi lại :Thế Trung tá có biết khẩu súng colt đang đeo bên hông ,chiếc xe jeep và cả tiền lương của Trung tá ở đâu mà có không ?,là của đất nước Hoa Kỳ chúng tôi đấy !!.
**********
Rồi ông Đính nhìn đám tù ngồi dưới đất và kết luận :- Các anh thấy không ,quân đội miền Nam các anh là tay sai của Đế quốc Mỹ xâm lược.
Chợt có một cánh tay đưa lên xin có ý kiến ,đó là anh Th/tá Hà thúc Mẫn nguyên Tiểu đoàn trưỡng TĐ 3/3 đứng lên và nói :
-Thế Tr/tá Đính cho tôi hỏi?
- Được rồi anh cứ hỏi đi.
- Khẩu K.54 Trung tá mang ,cái xắc cốt bên hông ,bộ kaki Nam định ,cái nón cối trên đầu ,xe cộ và vủ khí đạn dược ,mà ngay cả muối ăn là của Trung quốc. Vậy quân đội miền Bắc là cái gì của Trung cộng?
Ông Đính cùng đám quản giáo ,vệ binh tím mặt ,giải tán lớp và đem Th/tá Mẫn đi cùm.
Thời gian sau này ông Đính cũng bị đá ra ,hết xôi rồi việc ,trở về Huế ông Đính được VC giao cho làm trưỡng ban vệ sinh ,quét dọn sân vận động thành phố Huế.
__________________
LOÀI KHỈ TRỞ THÀNH LOÀI NGƯỜI MẤT TRIỆU NĂM
LOÀI NGƯỜI MUỐN TRỞ THÀNH LOÀI KHỈ TRƯỜNG SƠN HÃY GIA NHẬP ĐẢNG CS VN
HÃy CÓ Ý THỨC HỆ TỰ HỎI " TÔI ĐÃ LÀM GÌ CHO TỔ QUỐC , ĐỪNG HỎI TỔ QUỐC ĐÃ LÀM GÌ CHO TÔI
The Following 3 Users Say Thank You to hoanglan22 For This Useful Post:
Giữa năm 1974, Tiểu Ðoàn 4 TQLC được lệnh rời vùng biển Mỹ Thuỷ, Quảng Trị chuyển quân bàn giao vị trí phòng ngự ở vùng núi rừng ở phía Tây Quốc Lộ 1, dưới chân rặng Trường Sơn với căn cứ Hoả lực "Barbara" do TQLC Hoa Kỳ giao lại sau cuộc giao tranh đẫm máu giữa lực lượng Nhảy Dù và quân Cộng Sản Bắc Việt vào mùa Hè năm 1972, trên đường tiến quân tái chiếm Quảng Trị.
Từ Quốc Lộ về phía Tây, những ngọn núi cỏ trọc, nằm nhấp nhô bên bờ Bắc sông Mỹ Chánh nối liền vào chân dãy núi Trường Sơn với rừng cây rậm rạp nay đã trơ trụi vì thuốc khai quang do quân đội Mỹ rải xuống để tránh bị địch xâm nhập đột kích, Tù căn cứ Hoả lực "Barbara" nhìn về hướng Tây là con đường dọ quân Cộng Sản mới khai mở sau năm 72 nằm vắt vẻo, uốn khúc nối liền trục xâm nhập với tên gọi là Ðường mòn Hồ Chí Minh. Ở đây, quân lính TQLC ngày và đêm nhìn từng đoàn xe chở lính và đại pháo của Cộng quân lũ lượt xuôi Nam, ngang nhiên dưới bóng tàng của Hiệp Ðịnh Ðình Chiến Paris ký kết giữa Mỹ và Hànội năm 73. Người lính nào cũng biết sẽ còn ít nhất một trận đánh long trời lở đất nữa mới mong hết chiến tranh. Thuỹ Quân Lục Chiến là lực lượng Tổng Trừ Bị của miền Nam, trước đấy đã nhẩy vào các trận địa nóng bỏng trên khắp các mặt trận từ Mũi Cà Mau lên Pleiku, Kontum ra tận Bồng Sơn, Tam Quan, Huế, Quảng Trị, nay đã trở thành lính địa phương chống giữ phần đất địa đầu giới tuyến của Miền Nam.
Ngày và đêm, ngoài các cuộc tuần tiễu, phục kích chống xâm nhập còn tự đặt ra các chương trình huấn luyện, thao dượt để luôn sẵn sàng ứng chiến. Việt Cộng cũng không ngừng luồn người vào trong các địa bàn hoạt động, móc nối sơ sở cũ và quấy rối trị an như pháo kích, gài mìn, bắn tỉa. Thậm chí, có khi chúng bất thần đánh thốc qua tuyến phòng ngự của TQLC để thăm dò. Quân Ðoàn I lại càng chắc mẩm xin giữ giữ chân TQLC tại Quảng Trị để "bảo toàn lãnh thổ".
Tuy vậy, công việc giữ đất dành cho TQLC ngày càng nhàm chán. Hầu hết quân lính vốn quê ở tận trong Nam. Mỗi ngày một chuyến bay liên lạc C. 130 của Không Quân cho người đi phép, tiếp tế, bổ sung cũng không đủ khoả lấp khoảng trống của người lính xa nhà. Ðược một tuần lễ sau, khi cuộc điều quân đã ổn định, một buổi chiều mưa dầm ở Quảng Trị, Thiếu Tá Nguyễn Tri Nam, Sĩ quan Hành quân của Tiểu Ðoàn, nguyên xuất thân khoá 22 Võ Bị, đã mời vị Tiểu Ðoàn trưởng vào ỏõ hầm hành quân ỏõ để tiếp chuyện với ỏõ Ðại Bàng Thái Dương ỏõ. Thạch vừa chui ra khỏi cửa hầm ngủ vừa lẩm bẩm :
- Không hiểu có chuyện gì nữa đây?
Cái thằng "Thày Ðồ tẩm ngẩm" này! "Ðại Bàng Thái Dương" là Trung Tá Ðỗ Hữu Tùng quyền Lữ Ðoàn Trưởng Lữ Ðoàn 147 (LÐ147) TQLC. "Cái thằng Thày Ðồ" là bạn cùng khoá Võ Bị với Thạch, ra trường về cùng đơn vị và trải qua cuộc chiến 10 năm nay lại gặp nhau. Tùng là cấp chỉ huy của Thạch.
- Tuyên Ðức tôi nghe Thái Dương.
- Qua tần số cùi nhỏ, tao có chuyện muốn nói với mày.
- Cùi nhỏ, năm trên năm. Dứt.
Ở vùng hành quân, qua hệ thống máy liên lạc vô tuyến AN/PRC25, đám bạn cùng khoá Võ Bị của Thạch ở các đơn vị đã nghĩ ra hai hệ tần số liên lạc riêng dựa vào Khu Bưu Chính (KBC) 027 của Trường Võ Bị ngày xưa, cùi nhỏ là 4025 và cùi lớn là 4030. Thạch chuyển qua máy dự bị vặn cần vào tần số 4025.
- Thái Dương đây Tuyên Ðức.
- Một chút nữa sẽ có trực thăng "Slick" vào đón mày ra ngoài này ăn tối chung với tao và thằng Tây Sơn. Có cả Kilô ở Saigon mới ra nữa.
- Nhận rõ. Còn gì tiếp.
- Gặp mày sau. Dứt.
"Thằng Tây Sơn" là Trung Tá Nguyễn Ðằng Tống, Lữ Ðoàn phó LÐ 147 TQLC và cũng là bạn cùng khoá Võ Bị với Thạch, ra cùng đơn vị từ đầu năm 1963 đến nay. Tống, Tùng và Thạch là 3 Thiếu Uý vừa ngoài 20 tuổi, tốt nghiệp khoá 16 của Trường Võ Bị Ðà Lạt, tình nguyện về TQLC sau ngày mãn khoá. Hai ngày sau khi trình diện Bộ Tư Lệnh Liên Ðoàn TQLC ở Thị Nghè, cả ba được phát quân trang rằn ri của TQLC, rồi được đưa thẳng ra bến Bạch Ðằng xuống tầu Hải Quân HQ 401 để đáo nhậm đơn vị lúc ấy đang hành quân ở vùng Năm Căn, Cái Nước ở Cà Mau. Tống sinh sau Thạch một ngày ở tại Nha Trang, nên khi đổi sang số quân Hải Quân cả hai đã mang hai con số khít nhau là 701.162 và 701.163. Ông Cụ của Tống là một thâm nho, từ Quảng Nam vào Nha Trang để dạy học và sau đó được đổi vào Sàigòn làm cho Bộ Giáo Dục chuyên về cổ học Hán Nôm. Tống có khá đông anh chị em, vốn dòng dõi hoạt động yêu nước trong các Chi bộ Quốc Dân Ðảng. Anh Chị của Tống khá lớn tuổi đã làm việc và dạy học, lập gia đình khi mẹ của Tống đã mất sớm. Sau Tống, còn có một cô em gái và một người em trai. Tống học ở trường Trung Học Võ Tánh tại Nha Trang. Sau khi đỗ Tú Tài, Tống đã tình nguyện vào trường Võ Bị. Khi tốt nghiệp vào cuối năm thứ 3, Tống là một trong mười người đứng đầu của một khoá với 226 sĩ quan ra trường.
Với vóc người cao tầm thước, ứng biến nhanh lẹ và mau mồm mau miệng, Tống đã thành công trong việc lãnh đạo chỉ huy đơn vị từ một Trung đội trưởng với hơn 40 người lính lên đến một Tiểu Ðoàn TQLC với quân số gần 900 tay súng thiện chiến. Năm 65, khi hành quân ở Ðiện Bàn, Quảng Nam, Tống bị trúng đạn vào bụng được chuyển về Quân Y Viện Qui Nhơn. Khi gặp lại Thạch, Tống kể: "Lúc tao bị trúng bụng, ngã xuống, không cục cựa gì được, chợt nhớ đến mày bị ba phát đạn ở Bình Giã còn bò mấy ngày mấy đêm được". Thạch bị đạn vào đùi và bắp chân. Còn viên đạn thứ ba cháy xém ngoài da ngực trái. Ðạn vào bụng như Tống gây phá nguy hiểm hơn, thường dễ bị lưu huyết nội mà chết. Tống sống sót trở về trình diện Bộ Tư Lệnh lúc ấy đã dời về trại Lê Thánh Tôn, sau lưng bến Bạch Ðằng. Thạch bị lõm thịt đùi ở Bình Giã nên được đi học khoá 3 Sĩ Quan Căn Bản Quân Cảnh ở Vũng Tàu rồi về làm Ðại Ðội Trưởng Ðại Ðội 202 Quân Cảnh của Binh chủng TQLC. Trong lúc ấy còn dưỡng thương, Tống được vị Tiểu Ðoàn trưởng cũ là Thiếu Tá Nguyễn Kiên Hùng, nguyên tham dự đảo chánh 11/11/60, thất bại chạy sang ẩn náu ở Cao Miên rồi trở về thay Thiếu Tá Lê Hằng Minh làm Tiểu Ðoàn Trưởng Tiểu Ðoàn 4TQLC. Thiếu Tá Hùng được bổ nhiệm ra làm Tỉnh Trưởng Nha Trang đã đem Tống theo, lúc ấy Tống còn là Trung Uý, ra làm Quận Trưởng Quận Ninh Hoà. Vốn là Sĩ quan Tác chiến kiên cường và liêm chính, Thiếu tá Hùng không ngồi lâu ở nơi "xôi thịt" đã bị trả lên Quân Ðoàn II và sau đó ông xoay sở về làm Huấn Luyện Viên cho trường Chỉ Huy và Tham Mưu. Còn Tống từ đơn vị 2 Quản trị đã nhất quyết đòi về lại TQLC và cuối cùng được toại nguyện. Dù trên da bụng của Tống còn dấu vết con rết dài sau cuộc giải phẫu, Tống nói đùa với Thạch : "Bụng tao có cái Fermeture để lâu lâu mở ra coi". Hồi Tống đi làm Quận Trưởng ở Ninh Hoà, do quân số còn ở TQLC nên đã uỷ nhiệm cho Thạch hàng tháng đến phòng Quân lương lãnh tiền gửi ra cho Tống. Tống viết thư bảo: "Mỗi tháng tao cho mày một ngàn xài chơi, còn bao nhiêu gửi ra cho tao".
Làm Quận Trưởng chỉ vài tháng với tuổi trẻ độc thân lại khẳng khái, Tống chẳng dư dả được bao nhiêu. Vốn tính gan lì và dũng lược, Tống cầm sự vụ lệnh đi Tiểu Ðoàn TQLC trở lại làm Ðại Ðội Trưởng. Với các công trận lừng lẫy trên khắp các mặt trận từ Miền Tây ra Miền Ðông lên đến Ðức Cơ, Pleime, Tống đã từng bước lên cho đến ngày được bổ nhậm làm Tiểu Ðoàn Trưởng Tiểu Ðoàn 1/TQLC. Năm 68, Tiểu Ðoàn của Tống đã vây bắt được 120 tên Việt Cộng xâm nhập vùng Ngã Ba Cây Thị, cầu Bình Lợi. Tống được đi học khoá Amphibious Warfare ở Quantico, Virginia, Hoa Kỳ rồi trở lại đơn vị hành quân tái chiếm Quảng Trị. Bị thương lần thứ hai, Tống được kéo về làm Chánh Văn Phòng cho Thiếu Tướng Tư Lệnh Sư Ðoàn TQLC. Vẫn thích cười cợt, vui đùa, Tống bảo: "Bây giờ tao làm Skinman tức là gia nhân đó!". Người hùng coi thường tử sinh đó cuối cùng đã trở ra đơn vị tác chiến và làm Tiểu Ðoàn Trưởng Tiểu Ðoàn 4/TQLC, lên cấp Trung Tá với Ðệ Tứ Ðẳng Bảo Quốc Huân Chương sau cuộc hành quân tái chiếm Quảng Trị năm 72.
Lúc ba Thiếu Uý trẻ măng xuống tàu HQ.401 trực chỉ Cà Mau, leo lươí xuống tàu LCU đổ bộ lên Rạch Ông Năm với quân phục mới tinh chưa cắt chỉ, balô đời Pháp từ trường Võ Bị mang theo cồng kềnh đủ thứ trên lưng và hai bàn tay không, cúi đầu chạy theo đám lính TQLC râu tóc xồm xoàm, chiến phục bạc màu nước muối, đổ bộ lên bờ sông nhão nhoẹt sình lầy với rừng cây Ðước, cây Mắm xoải rễ dài chằng chịt như muốn níu kéo đôi chân người lính vốn đã trơn trợt. Trình diện Ðại Uý Bùi Thế Lân, Tiểu Ðoàn Trưởng xong, cả ba được lãnh ba cây súng Shotgun với dây đạn như phim cao bồi và được phân ra đi theo Ba Ðại Ðội tác chiến để "quan sát". Nhờ đã trải qua khoá Rừng Núi Sình Lầy của Biệt Ðộng Quân ở Dục Mỹ nên cả ba đều thích ứng nhanh chóng. Chấm dứt cuộc hành quân gần một tháng sau, đơn vị được rút trở về Hậu cứ ở Vũng Tầu. Ba người bạn lại càng khắng khít với nhau hơn, dù ở ba Ðại Ðội khác nhau, đi đâu cũng như hình với bóng. Khi được cấp giấy phép một tuần lễ, cả ba cùng rủ nhau đi chung xe đò về Sàigòn. Ðầu tiên ghé thăm nhà ông Cụ của Tống đang ở trong một hẻm nhỏ bên Ðakao. Gặp cô em gái của Tống là Trúc, Thạch đã ngã lòng. Trúc lúc ấy đang học ở Gia Long, vừa đẹp, vừa thuỳ mị, hiền. Về lại đơn vị, Thạch mới nói vài câu ý muốn xin bàn tay cô em gái của Tống. Tống đã giẫy nẫy la lối: "Thôi đi mày. Mày bê bối, chơi bời bừa bãi. Không được đâu!". Thạch không vừa đáp lại: "Từ hồi nào tới giờ, tao đi đâu cũng có mày mà, làm gì nói tao bê bối, chơi bời bừa bãi". Ở tuổi mới lớn, thấy cô gái đẹp nào cũng mê. Anh Chị lớn bận bịu gia đình riêng, nên Trúc vừa đi học vừa lo chăm sóc Cha già và đứa em trai không Mẹ. Còn Thạch lặn lội hành quân. Khi trở về hậu cứ nghỉ quân, bô ba Thạch, Tống và Tùng đi đâu cũng dắt díu nhau như anh em ruột thịt, luôn cả xóm Ngã Ba nước mắm ở Vũng Tàu. Ði ăn uống, nhảy đầm cả ba gom chung tiền túi giao cho một người giữ trả. Lúc lãnh tiền "rappel" Thiếu Uý được 7, 8 ngàn, Thạch và Tùng mua hai chiếc Vélo Solex để đèo nhau đi chơi chung. Có khi vào quán Càphê có người đẹp. Lúc lại thả rong theo chân mấy cô bé Trung học Vũng Tàu. Lúc nào Thạch cũng tỏ ra nhường nhịn hai bạn, nếu chỉ có hai người đẹp phải theo. Từ đó, mấy cô gái mới lớn ở Vũng Tàu mới đặt cho ba anh chàng Thiếu Uý nhỏ tuổi có tên cùng vần chữ T. là "Ba Trái Thúi" trong lúc ba chàng tự nhận mình là "Ba Chàng Ngự lâm Pháo Thủ".
Ðỗ Hữu Tùng xuất thân trong gia đình gia giáo, đông anh em ở Ðà Nẵng, lớn hơn Thạch và Tống, một tuổi, dáng vẻ thấp bé hơn nhưng thâm trầm, kín tiếng với nét đạo mạo "Cụ Non", nên bị hai người bạn đặt tên là "Thày Ðồ". Tùng ít nói nhưng khi mở miệng thì tuôn ra câu cú văn hoa ý nghĩa thâm thuý. Lại còn có tật để bụng không thích nói ra. Khi cần chàng lôi cuốn sổ tay ra có ghi chép mọi "sự việc" đầy đủ, đâu ra đó. Với nước da ngăm ngăm, Tùng có nét mặt và dáng vẻ thư sinh hơn là võ biền, khoan thai và từ tốn. Mãi một năm sau, khi đến đơn vị, hai người bạn mới phát giác ra Tùng đã có người yêu từ hồi còn ở Trung học, khi nàng bất chợt ghé xuống Vũng Tàu. Người thiếu nữ tên Lan còn giữ nguyên dáng vẻ, giọng nói và cử chỉ của một cô gái Huế, dù lớn lên ở Ðà Nẵng với Tùng. Hồi mới ra trường, sau cuộc hành quân "thử lửa" ở Cà Mau trở về, Tống và Tùng đều được các Ðại Ðội Trưởng lo chu đáo từ việc sắp xếp đặt phòng ngủ bên cư xá Sĩ Quan độc thân trước mặt doanh trại. Riêng Tùng có được một căn phòng riêng rẽ nằm kín đáo phía sau. Thấy Thạch chưa có chỗ tạm trú, Tùng rủ bạn cho ở cùng phòng. Tính Thạch lại bừa bãi, cẩu thả nên ngày nào nghỉ ở hậu cứ Tùng cũng lo dọn dẹp gọn gàng sạch sẽ cho bạn. Thậm chí còn đi mua sắm khăn phủ giường, gối và mền cho Thạch "Ðâu phải ra đó như hồi còn trong trường Võ Bị". Khi Lan đến thăm với quà cáp tươm tất và thức ăn, bánh trái đầy giỏ, Tùng chia phần cho hai bạn rất đồng đều và không quên nhắc khéo Thạch.
- "Tối nay, mày có quyền ở nhà chị Ba Cây Dừa qua đêm được rồi".
Chị Ba Cây Dừa nuôi nhiều em út. Có một em chừng 17, 18 tuổi tự khoe mình là tay đã tạt át xít vào mặt cô Cẩm Nhung là người tình của Trung Tá Trần Ngọc Thức năm 61, 62 gì đó. Sau lần gặp đầu tiên, cô nàng bảo Thạch: Anh không cần cưới em đâu. Chỉ khi nào hành quân về ghé ở lại với em là được rồi. Thế cũng đỡ phiền lòng và mất thì giờ theo tán tỉnh mấy cô học sinh Trung học trong trắng. Ở đơn vị tác chiến đâu biết số Ông chết ngày nào. Thạch vui vẻ đáp ứng ngay yêu cầu của Tùng trước cặp mắt dò hỏi của Lan. Ðã thế, Tống còn bồi thêm một câu:
- "Thằng này chỉ giỏi ăn chơi trác táng".
Làm cho Lan càng thêm thắc mắc. Hết hy vọng "cua" em gái của Tống rồi. Lần sau hành quân trở về hậu cứ, Tùng vọt ngay về Sàigòn thăm bạn gái. Nên khi có lệnh cấp tốc đưa quân lên SàiGòn chống đảo chánh của Tướng Lâm Văn Phát chỉ có hai Ðại đội của Thạch và Tống lên máy bay Air Viet Nam từ phi trường Vũng Tàu về Tân Sơn Nhất. Dù vậy, khi Tiểu Ðoàn lên nằm ứng chiến ở Thị Nghè, Tùng cũng theo hai bạn đi ăn và đi nhảy đầm ở Tour D'Ivoire. Dưới thời Tổng Thống Diệm, lương Thiếu Uý khá dư dả đối với ba chàng tuổi trẻ độc thân. Chẳng bù sau này lên đến cấp Tá với phụ cấp này nọ cũng không dám ghé vào nhà hàng Tây. Do hành quân liên miên sau ngày đảo chính 1/11/63, "Ba Trái Thúi" dù có những ngày về nghỉ ở hậu cứ theo đuổi cô này, cô nọ nhưng chẳng đâu vào đâu cả. Cuối cùng chỉ ghé thăm chị Ba Cây Dừa rồi lại lên đường ra "biên ải".
Ở mặt trận Bình Giã, khi Tùng được lệnh đem Ðại Ðội vào rừng cao su Quảng Giao tìm xác chiếc trực thăng và phi hành đoàn 4 người của Mỹ, Thạch và Tống lo lắng dặn dò bạn phải cẩn thận, Tùng bảo:
- "Tin tức mấy ngày nay đã rõ là quân số Việt Cộng tập trung lên đến cả Trung Ðoàn. Nếu tụi nó còn quanh quẩn tại đây, Ðại Ðội của tao vào là bị tụi nó nuốt chững. Lệnh của cấp trên ra là tao phải vào thôi" !
Thạch nói như an ủi bạn :
- "Thôi được, có gì tao với thằng Tống sẽ nhào vô ngay"!
Chỉ một tiếng đồng hồ sau, Thạch đã nghe tiếng súng nổ ran ở phía Ðông của làng Bình Giã, tức tốc ra lệnh cho Ðại Ðội của mình ra quân tiếp cứu sau khi đã gọi máy cho Tống bên Ðại Ðội 4. Cuối cùng, Tống và Tùng thoát về làng không hề hấn gì sau cuộc giao tranh đẫm máu trong vườn cao su Quảng Giao. Là Ðại Ðội tiến sâu vào vùng địch nhất, Thạch bị kẹt lại, bị thương với ba phát đạn trên người, bò xuyên rừng với khẩu AR15 trọn hai ngày ba đêm mới đến cổng làng Bình Giã. Trong khi ấy, Tống và Tùng gom quân phòng thủ chờ tiếp viện. Mỗi đêm, cả hai thắp nhang đứng ngoài trời cầu nguyện xin nếu Thạch có chết linh thiêng nằm ở đâu về báo cho bạn biết để lấy xác. Ðến ngày thứ Ba, khi dẫn quân cùng với Tiểu Ðoàn Nhảy Dù vào trận địa thu lượm xác quân bạn, Tống và Tùng đã gặp lại người bạn sống sót với hai vết thương đã thối rữa và chiến phục rách tã tơi.
Từ đó, những biến đổi đã xảy ra theo thời gian. Ba người trôi nổi theo định mệnh, nhưng vẫn còn chung trong một binh chủng. Hễ có dịp họ lại tìm thăm nhau. Tình bạn ngày càng bền chặt, Tống bị thương hai lần, nhưng Tùng không một mảy may thương tích, rời Tiểu Ðoàn 4 qua Tiểu Ðoàn 5, rồi làm Tiểu Ðoàn Trưởng Tiểu Ðoàn 6/TQLC. Vốn tính cẩn trọng, điềm đạm và kiên cường, Tùng nối dài bước đường hành quân suốt từ ngày ra trường với bao nhiêu chiến công tích luỹ và thăng cấp ngoài mặt trận từ Ðại Uý lên đến Trung Tá. Năm 1972, khi hành quân tái chiếm Quảng Trị, Tiểu Ðoàn của Tùng là một trong nỗ lực chính đã thanh toán tên địch cuối cùng để dựng lại lá Quốc Kỳ trên đỉnh Tháp Cổ Thành giữa cảnh khói lửa còn nồng nặc mịt mù. Trong cuộc khao quân mừng Chiến Thắng Quảng Trị tại Huế, Tùng đã gặp " KI LÔ" trong buổi tiệc khoản đãi. Lửa tình đã bùng cháy không có gì dập tắt được. "KiLô" đã nổi danh từ những dòng nhạc khắc khoải và lời ca như tiếng thơ của Trịnh Công Sơn. Người lính trận kiệt xuất Ðỗ Hữu Tùng đang khát khao trong sâu kín niềm an ủi, vỗ về sau những ngày tháng dài ngụp lặn trong gió mưa bom đạn, khói lửa binh đao. Bất chấp hoàn cảnh nghiệt ngã, cả hai đã sôi nổi trong lửa tình nồng cháy. Tùng đã kết hôn với Lan từ sau ngày Lan tốt nghiệp và được làm việc ở Bệnh Viện Từ Dũ Sàigòn.Chẳng có đám cưới linh đình, vì từ năm 65, phép tắc ở đơn vị tác chiến như một món xa xỉ phẩm. Ðứa con đầu long của Tùng ra đời khi người Cha đang lặn lội hành quân dẹp giặc Tết Mậu Thân từ Sàigòn, Chợ Lớn rồi ra đến Huế. Tùng cứ miệt mài hành quân. Sau này, khi gặp nhau lại ở vùng địa đầu giới tuyến Quảng Trị, Tùng có nói với Thạch đã gặp Lan đang tình tứ với một Bác Sĩ trực Bệnh viện, khi Tùng bất chợt trở về sau cuộc hành quân ghé tìm Lan ở Từ Dũ, rồi im lặng bỏ về lại doanh trại của đơn vị.
Sau khi bị thương được đưa về phục vụ ở hậu tuyến, Thạch lẽo đẽo theo chân hai người bạn qua nhiều chức vụ. Cho đến lúc du học từ Hoa Kỳ trở về, Thạch bướng bỉnh không chịu ở lại đàng sau làm Chánh Văn Phòng cho vị Tướng Tư Lệnh, cuối cùng đã chấp nhận trở ra đơn vị tác chiến, dù chân bị thương còn tập tễnh vì mất thịt đùi. Tống nói: "Thôi kệ nó. Bây giờ đang đình chiến, mày cứ ra nắm chức vu chỉ huy với tụi tao cho vui".
Lúc ấy, trong binh chủng TQLC, đám bạn cùng khoá Võ Bị của Thạch có Tùng làm Quyền Lữ Ðoàn Trưởng, Phúc giữ chức Lữ Ðoàn Phó LÐ 258, Hiển nắm TÐ6, Kim ở TÐ 7, Ðể ở TÐ9, Sắt ở Tiểu Ðoàn Yểm Trợ Thuỷ Bộ, Cảnh coi TÐ3, Tống làm Lữ Ðoàn Phó cho Tùng. Mỗi lần có buổi họp hành quân, bạn bè túm tụm lại với nhau vui vẻ như một đại gia đình. Cấp bậc gì không cần biết. Mày tao chi tớ um sùm. Tất cả thân thiết với nhau đến nỗi bên ngoài có dư luận chê bai đám sĩ quan khoá kỳ thị phân biệt Ðà Lạt, Thủ Ðức. Ðiều tiếng xấu ấy không khuất lấp được sự thực đã xảy ra ở các đơn vị do các sĩ quan này chỉ huy.
Khi trời đã chạng vạng tối và sương mù lãng đãng dưới chân những ngọn núi cỏ trọc mấp mô quanh khu vực đóng quân của Bộ Chỉ Huy TÐ 4/TQLC, chiếc trực thăng từ hướng Ðông tà tà đáp xuống trên đỉnh núi. Tiểu Ðoàn Trưởng Thạch lom khom chạy ra leo lên hàng ghế vải phía sau lưng phi công. Chỉ trong vòng phút sau phi cơ đã đáp xuống Bộ Chỉ Huy Lữ Ðoàn ngay phía bên kia cầu Mỹ Chánh. Tùng đứng tười cười đón bạn rồi đưa vào căn hầm dựng bằng bao cát. Tùng cười mỉm nhìn bạn nói:
- "Thằng Tống đang đấu láo trong đó. KíLô nói biết mày từ hồi còn ở ÐàLạt. Ðúng không?".
Thạch nhìn thấy hạnh phúc như bao trùm lên gương mặt của Bạn, gật đầu đáp:
- Ừ, từ hồi ở La Tulipe Rouge trên ÐaLạt kìa. Lúc ấy KiLô chưa nổi tiếng.
- Thôi được, nếu vậy tao khỏi giới thiệu.
- Cô nàng ra hồi nào vậy.
- Hôm qua. Theo máy bay của Không quân.
Thạch suy nghĩ rồi ngập ngừng nhìn bạn, hỏi:
- Thế chuyện mày với Lan ra sao ? Còn thằng con của mày nữa.
Tùng im lặng không trả lời. Tính vẫn thế. Chỉ để bụng thôi.
Mấy tháng sau Tùng bị mất chức vì khi về phép ở Sàigòn đã đụng chạm với người chồng cũ của Kilô, khiến báo Trắng Ðen chạy tít lớn ngay trang đầu. Tùng âm thầm về làm Lữ Ðoàn Phó cho bạn cùng khoá là Nguyễn Xuân Phúc, nguyên Á Khoa của khoá 16 Võ Bị, xuất thân từ Tiểu Ðoàn Trâu Ðiên. Cho đến ngày 29/3/75, cả Phúc và Tùng ngồi trên chiếc trực thăng di tản bị bắn rơi, đã đền nợ nước trong cảnh chết chóc tang thương của đồng đội.
Tống lên làm Lữ Ðoàn Trưởng LÐ 468/TQLC những ngày tháng cuối cùng của cuộc chiến kẹt lại với người vợ đang mang thai đứa con trai đầu lòng. Khi bị đưa ra một trại tù cải tạo ở Yên Bái, Tống đã bị vết thương cũ ở bụng làm độc, không được chữa trị đã vong mạng giữa rừng thiêng nước độc Thượng Du Miền Bắc Việt Nam. Người vợ trẻ của Tống đã lặn lội ra tận nơi hốt cốt hoả táng cho vào bình lọ mang theo tận Mỹ với đứa con Tống chưa hề gặp mặt.
"Ba Trái Thúi" nay chỉ còn lại một mình Thạch lưu lạc xứ người, ôm mộng trở về quê hương vinh danh những người bạn chiến đấu đã nằm xuống cho đất nước, những đồng đội và chiến hữu đã ngã gục tức tủi cho cuộc chiến bảo vệ Miền Nam và đòi lại DANH DỰ cho những người đã cầm súng giữ quê hương ở Miền Nam.
TRẦN NGỌC TOÀN
__________________
LOÀI KHỈ TRỞ THÀNH LOÀI NGƯỜI MẤT TRIỆU NĂM
LOÀI NGƯỜI MUỐN TRỞ THÀNH LOÀI KHỈ TRƯỜNG SƠN HÃY GIA NHẬP ĐẢNG CS VN
HÃy CÓ Ý THỨC HỆ TỰ HỎI " TÔI ĐÃ LÀM GÌ CHO TỔ QUỐC , ĐỪNG HỎI TỔ QUỐC ĐÃ LÀM GÌ CHO TÔI
The Following 2 Users Say Thank You to hoanglan22 For This Useful Post:
Tôi thuộc Pháo Đội B/ TQLC, bị bắt tại Carrol năm 1972. Khoảng tháng 9 năm 1975 nhóm tù binh chúng tôi từ Bắc về Nam. Khi còn trong tù, anh em tù binh chúng tôi có thành lập đoàn cảm tử quân. Chúng tôi hẹn nhau khi về tới miền Nam, sẽ liên lạc với nhau và sẽ cùng nhau vô rừng tìm lại quân đội VNCH và gia nhập tổ chức phục quốc. Nhưng khi về tới miền Nam thì chúng tôi bị mất liên lạc vì chúng tôi không được đi lại tự do như mình đã nghĩ.
Khi tôi đăng lính TQLC thì gia đình tôi ở Thủ Thiêm; khi tôi về Nam, gia đình tôi đã dọn đến vùng xa thuộc quận Thủ Đức. Tụi phường xã tại đây kiểm soát dân chúng rất chặt chẽ, đặc biệt là thành phần lính của chế độ Sài Gòn. Thanh thiếu niên tuổi từ 18 tới 25 phải ghi tên trong một danh sách. Danh sách này chúng dùng để bắt người đi thanh niên xung phong, thi hành nghĩa vụ quân sự, hoặc lao động khổ sai. Trong đó có tôi vì lúc đó tôi mới có 20 tuổi. Với tờ giấy: “Nhờ cách mạng miền Nam tiếp tục giáo dục anh Nguyễn Tấn Tài”, tôi được liệt kê vào danh sách phản động. Như vậy tôi có tên trong hai cuốn sổ đen – danh sách từ 18-25 và danh sách “có nợ máu với nhân dân”.
Mỗi tuần lên phường để cán ngố thấy mặt, chúng tôi - những người lính VNCH, bị hành hạ từ thể xác đến tinh thần. Ngoài việc đi họp nghe những lời loan truyền láo lếu, bị de dọa “trả về miền Bắc”, gia đình bị theo dõi, đi đâu cũng phải có giấy phép của phường, xã ... , chúng tôi còn bị bóc lột đi làm tạp dịch không công như vác lúa gạo nộp lên phường xã, xẻ đất liền ra thành sông để lấy nước tưới ruộng. Vì “sáng tạo” XHCN này mà bao nhiêu người chết đuối. Các anh em lính VNCH chúng tôi bị đưa đi gỡ mìn vì lý do rất là ngu xuẩn “Đồng bọn của các anh gài thì các anh phải biết gỡ!” Trời ạ, lựu đạn mỗi người gài một kiểu, ai biết người ta gài thế nào mà gỡ? Thấy bạn bè chết oan mà lòng tôi nghẹn ngào, căm phẫn.
Đến năm 1978, Việt Nam bị “anh em môi hở răng lạnh” Trung Quốc tấn công miền Bắc, Miên tấn công miền Tây, và bọn Việt Cộng (VC) mang quân sang chiếm Campuchia. Dĩ nhiên gia đình nào có “công với cách mạng” thì con em của họ mới được đi học, “được” tuyển vào bộ đội. Nhưng oái ăm là con họ đi mà không về, thế là bọn chúng hoảng hốt đổi chiêu bài - bắt bọn “có nợ máu với nhân dân” đi làm bia đỡ đạn, thay chết cho bọn chúng.
Năm 1980, khi tôi 25 tuổi, hôm đó vừa về đến nhà sau khi đi vác lúa gạo lên phường, má tôi đưa tôi tờ giấy của phường đưa xuống bắt tôi đi làm nghĩa vụ quân sự. Ai cũng thắc mắc tại sao lý lịch tôi đâu có “trong sạch” mà lại bị bắt đi? Lầm hay là cố ý? Tội nghiệp má tôi, bà rất buồn, bà khóc bảo tôi đi trốn. Nhưng tôi lại thấy đây là cơ hội đi tìm đường tự do. Gia đình tôi nghèo. Hai vợ chồng, hai đứa con nhỏ tá túc trong một túp lều. Gió chiều nào thì nó ngã theo chiều đó. Không biết sập lúc nào. Khoai độn ngày hai bữa còn chưa có mà ăn thì làm gi có tiền đi vượt biên. Tôi nói với ba má tôi:
-Chúng thả cọp về rừng, con đi rồi nếu ba má nhận được tin con, là con ở nước ngoài. Nếu không nhận được tin con trong vòng hai năm thì coi như con đã chết năm 1972.
Bị bắt sang Miên với tôi có thằng Hoàng ở cùng xóm tại Thủ Đức. Nó tuổi mới lớn. Trước khi lên Quang Trung, cha mẹ nó gởi nó cho tôi nhờ tôi để ý và giúp đỡ Vì gia đình họ cũng là người quốc gia như tôi, nên tôi nhận lời. Trong thâm tâm tôi hứa nếu trốn sang Thái, tôi sẽ kêu nó đi theo.
Từ giã ba má, các em, gia đình, hai con nhỏ – một và ba tuổi, chúng tôi bị đưa lên Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung cũ. Tới đây mới thấy rất nhiều người lính của VNCH bị bắt đi bộ đội, nào là TQLC, Nhảy Dù, Biệt Động Quân, Hải Quân, nhiều anh là trung sĩ, hạ sĩ. Còn con em của sĩ quan VNCH cũng rất nhiều. Cha thì đang tù tội tại miền Bắc; mẹ thì làm vất vả nuôi chồng, nuôi con; con mới lớn không được đi học vì cha mẹ là quân nhân VNCH, nhưng bị bắt đi vào chỗ chết.
Tại đây tôi gặp Hà Ngọc Vinh, (hiện ở New Jersey). Anh là con của một sĩ quan VNCH, nhỏ tuổi hơn tôi. Anh người Bắc, đạo Công Giáo. Thấy anh ngoan đạo, thật thà, hiền hậu, có tinh thần yêu nước nên tôi mến và tin tưởng anh. Chúng tôi thân nhau và cùng dự tính khi qua tới Campuchia bằng cách nào cũng tìm cách đi Thái Lan, nhất định không ở lại chiến đấu cho bọn VC.
Tại Quang Trung, tôi gặp lại Thuận làm trong ban huấn luyện. Thuận là vệ binh nên nó là người coi tôi lúc này. Thuận được chuyển về Quang Trung làm sau khi bị thương ở đầu bên Miên. Khi ở tù ngoài Bắc, Thuận chỉ là đứa nhỏ chưa đi bộ đội. Tù nhân chúng tôi mỗi ngày thường đi ngang qua làng của nó. Mỗi khi đi qua làng, chúng tôi đều vô nhà nó xin nước hoặc xin nướng khoai nên Thuận nhận ra tôi. Thuận rất tốt với tôi và thường giúp đỡ tôi khi tôi ở Quang Trung. Nó bảo khi nào biết tôi đi đâu thì sẽ cho tôi hay. Thuận muốn giúp tôi ở lại Quang Trung làm với nó trong ban huấn luyện. Nhưng tôi từ chối vì tôi đã nhất định sẽ trốn sang Thái Lan. Trải qua 3 tuần “huấn luyện” tại Quang Trung, chúng tôi được chở qua Siem Reap, rồi lên xe đi qua Sisophon, tới Battambang. Nước Miên lúc đó có ba phe đảng nên rất lộn xộn và nguy hiểm:
Phe Para – phe tự do của Lon Nol 2.
Phe Pol Pot/Khmer Rouge/Khmer Đỏ theo Trung Cộng,
Phe Heng Samrin theo VC.
Phe nào gặp nhau cũng đánh, phe Heng Samrin theo VC nhưng tụi này thấy VC cũng bắn.
Trên đường vô Siem Reap, chúng tôi ngừng lại bộ chỉ huy trung đoàn 15. Tại đây tôi gặp một người cùng xóm, con của sĩ quan VNCH, cho biết chỗ tôi tới rất nguy hiểm. Đó là vùng Khmer Rouge, coi chừng chết tại đó. Rời bộ chỉ huy trung đoàn 15, chúng tôi bị phân ra về trung đoàn 2, TĐ1 biên phòng. Tôi và Hà Ngọc Vinh được ở chung với nhau. Cứ 10 người VC gọi là một toán. Một toán đóng chung một chốt. Tiểu đội trưởng của tôi là X (xin dấu tên). Tại đây tôi được phát cây súng AK.
Qua tới đây rồi ai ở lâu, ai mới tới rất dễ biết. Người mới tới như tôi, quần áo mới còn lành lặn. Người sang đây lâu rồi thì quần áo rách tả tơi thấy thật tội nghiệp!
Tôi kể cho X biết tôi là “Lính Thủy đánh bộ” của VNCH. Bị tù ngoài Bắc hơn ba năm. Mới về vài năm thì bị bắt đi bộ đội. X thắc mắc tại sao tôi được về toán biên phòng.
Mỗi tối, X vô bộ chỉ huy báo cáo tình hình, quân số cho cấp trên. Không biết X nói gì mà qua hôm sau, X dắt tôi đi gặp tiểu đoàn trưởng của anh. Người này tên Châu. Hắn hỏi tôi về việc tôi đi lính VNCH, đóng ở đâu... Qua hai ngày sau, hắn tập họp đoàn quân lại. Hắn ta tuyên bố rằng hồi xưa hắn có đánh với tôi tại mặt trận Quảng Trị. Hắn còn nói tôi mặc dù là lính mới nhưng có rất nhiều kinh nghiệm chiến đấu. Từ đó X có vẻ mến và tin tôi, có chuyện gì X hay nói cho tôi biết.
Thấy ba lô của X có nhiều quần jean Thái còn mới, tôi hỏi thì X khai ra:
-Anh có dám đi cướp đường buôn không? Nếu anh dám chơi thì thứ này nhiều lắm.
Vì tôi đang muốn dò đường sang Thái. Lợi dụng nói chuyện đi cướp đường buôn, tôi hỏi dò:
-Cướp đường buôn thì đi hướng nào?
-Đằng trước mặt mình thì không đi được vì tụi Pol Pot đóng hướng đó. Dân buôn họ đi hướng có tụi Para/Lon Nol đóng nên phải đi hướng kia.
Lon Nol là quân đội theo chế độ tự do. Pol Pot là tụi Khmer Rouge (Đỏ) theo Trung Cộng. Dân buôn không dám đi đường có Pol Pot đóng vì Pol Pot rất ác, gặp được chúng sẽ giết. Chúng là tác giả của tội ác Killing Fields. Nghe nói thế tôi cũng không dám đi đường này. Nếu bị chúng bắt mà biết được tôi là lính VNCH thì sẽ bị trả thù vì khi xưa VNCH có mang quân sang đánh Khmer Rouge để giải tỏa cho quân đội Lon Nol. Tôi hỏi dồn:
-Hướng kia là hướng nào?
X nói:
-Hướng Nong Chan. Phải đi ngược lại hướng Pailin, đi trở ra Sisophon, rồi đi vô Nong Chan..
Không biết hướng Nong Chan là hướng nào nhưng tôi vẩn đồng ý đi cướp đường buôn rồi từ từ dò đường. X có cây súng ngắn K54 của thằng tiểu đoàn phó cùng quê. Trước khi đi phép nó gởi cho X giữ dùm. Nhưng lâu lắm rồi không thấy thằng tiểu đoàn phó trở ra, chắc nó đã đào ngũ. Bây giờ thằng tiểu đoàn trưởng Châu chịu trận một mình. X giữ cây súng này để đi cướp đường buôn.
X cho tôi biết khoảng hai, ba ngày nữa; có một TĐ bổ xung quân vào đây nhập chung với TĐ tôi để cùng đi giải tỏa cho một toán quân bị bao ở Pailin gần biên giới Thái Lan. Vùng này là vùng Khmer Đỏ. Tôi nghĩ chúng tôi sẽ bỏ đi trong lúc đoàn quân nào đó vừa nhập vô đây. Thứ nhất là cuộc hành quân này rất nguy hiểm tôi không muốn chết một cách lãng nhách, thứ hai là lợi dụng tình hình lộn xộn trốn đi dễ hơn. Tôi báo tin này cho Vinh hay để anh chuẩn bị.
Có một người bạn thân của Vinh cùng xóm thuộc toán trinh sát. Vinh rủ anh ta đi chung và nhờ anh lấy cho ít lựu đạn vì nơi chốt chúng tôi chỉ có súng AK và lựu đạn nội hóa. Anh ta đưa cho chúng tôi mấy trái lựu đạn của VNCH (Mini và M67). Chúng tôi mang giấu đi. Bạn của Vinh lại giới thiệu một người nữa tên Tú, chung nhóm trinh sát với anh, xin nhập bọn đi chung. Bạn của Vinh tôi tin, nhưng còn nghi ngờ Tú. Tôi hỏi:
-Làm sao tao biết mày thực lòng muốn đi?
Tú móc ra tấm hình:
-Anh tôi đi Mỹ 1975. Anh cho tôi đi chung. Tới biên giới tôi sẽ mang tấm hình này ra thì họ sẽ cho chúng ta qua Thái.
Nghe cũng có lý, Tôi bằng lòng.
Chúng tôi có lệnh đi vô Pailin mở đường. Tôi gặp Vương cùng ở Thủ Thiêm quê tôi. Không biết ai nói cho nó biết chuyện chúng tôi đang dự định. Vương đến nói nhỏ với tôi:
-Anh đi đâu, cho em đi theo. Em không có gia đình. Sống với cha ghẻ bị ổng đánh hoài.
Nghe hoàn cảnh của nó tôi thấy thương, tôi cho nó đi theo. Như vậy nhóm của tôi có tất cả 6 người: Tôi, Vinh, bạn Vinh, Tú, Vương, và Hoàng cùng xóm Thủ Đức mà tôi đã hứa với ba má nó trước khi lên Quang Trung. Tiếng “lành” đồn xa, nhóm bạn của Vương có 5 thằng: Bích SĐ18, Sơn, Việt, và 2 người nữa không nhớ tên đến năn nỉ tôi:
Sợ bị lộ, tôi vỗ vai tụi nó rồi gật đầu: “Nằm im đó đi. Khi đi tao sẽ gọi”. Không ngờ tối hôm đó, nhóm 5 thằng đó bỏ đi mất hồi nào. (Sau này vô trại tị nạn gặp lại tụi nó và được biết chúng mang AK đi theo con suối chỉ tích tắc hút xong một điếu thuốc là tới Thái).
Sau khi nhóm 5 thằng bỏ đi, chúng tôi tiếp tục lội vô Pailin. Tôi vừa tới được cái đồi thì cối của bọn Pol Pot bắn vô. Tôi la lên báo hiệu cho Vinh và Hoàng nằm xuống. Toán đi ngoài đường có 3 người chết tại chỗ. Chúng tôi lại được lệnh không vô Pailin nữa, dự tính bỏ đi bị đình lại.
Tụi VC phao tin nhóm 5 người bỏ đi đã bị Pol Pot chặt đầu. Nghe như thế tôi thấy sợ, cương quyết không đi hướng có tụi Pol Pot. Tôi biết rằng chúng tôi đang nằm sát biên giới MiênThái vì tôi nghe tiếng gà gáy mỗi ngày. Tôi đoán hình như có làng Thái Lan gần đó nhưng không dám đi hướng đó vì sợ quân Pol Pot giết.
X ra lệnh chúng tôi đi mở đường tối hôm đó để đón toán quân mới đến. Tôi thấy mến X vì cái gì anh cũng cho tôi biết. Một lần nữa, tôi quyết định trốn đi khi toán quân này tới đây vì đây là cơ hội tốt. Trong lúc chuyển quân lộn xộn thì chúng tôi sẽ lợi dụng tình hình chưa ổn định để đi. Tôi nói cho nhóm bạn tôi biết để chuẩn bị. Tôi muốn rủ X trốn đi với chúng tôi vì anh có vẻ rành rẽ đường đi nước bước. Trên đường đi mở đường, tôi hỏi X:
-Anh có chịu chơi không?
Anh trả lời :
-Anh chơi thế nào, tớ chơi thế đấy.
Tôi hỏi lại:
-Thật không?
Anh chắc chắn:
-Thật!
Tôi làm liều:
-Anh dám đi vượt biên với tôi không?
Vừa nói tay tôi vừa gìm cây AK đề phòng sợ X làm ẩu. Nếu bị lộ, tôi sẽ bắn X rồi chạy về hướng bắc, vô rừng luôn. Không ngờ anh hỏi lại tôi:
-Bộ anh tính qua Thái à? Nếu anh muốn, tớ sẽ chỉ đường anh đi.
Anh nói tiếp:
-Tớ chỉ còn một cha già ở Hải Phòng, mới nhận được thư cha tớ nói là ngoài Bắc họ vượt biên bằng tàu tới HongKong nhiều lắm. Tớ phải về thăm cha một lần. Nếu tớ muốn, cha tớ sẽ lo cho đi. Bây giờ tớ đang kẹt ở đây không đi được. Vả lại tớ nói giọng Bắc; nếu bị bắt, tụi Miên sẽ giết tớ.
Tôi hỏi X:
-Hướng Nong Chan đi như thế nào?
X vẽ cho tôi cái sơ đồ, anh nói:
-Từ đây sang Thái chỉ hút tàn điếu thuốc là tới nhưng tụi Pon Pot đóng ở đó. Theo hướng bắc mà đi. Trên đường tới Sisophon, anh sẽ gặp một cái chợ. Tại đây có 2 cái nhà ngói đỏ. Theo hướng đó anh sẽ tới Thái.
Đây là dịp cho chúng tôi phải đi. Lựu đạn, AK đã có nhưng chưa có địa bàn. X có một cái, tôi hỏi xin nhưng anh không cho vì chỉ có một cái nên không thể cho tôi được. Suy nghĩ hoài không biết cách nào để lấy được cái địa bàn. Thấy Vinh có cái đồng hồ Seiko 5, tôi nói với Vinh:
-Mình cần cái địa bàn để đi trong rừng sâu. Tôi nghĩ mình nên chơi cao cơ. Anh cho X cái đồng hồ đi. Khi qua được nước tự do rồi những thứ này thiếu gì.
Vinh nghe lời tôi, tháo cái đồng hồ đưa cho X. Khi X đeo cái đồng hồ vào rồi, tôi hỏi thẳng:
-Chúng tôi đi rồi, anh cứ đổ thừa cho chúng tôi ăn cắp của anh. Anh đâu có cho chúng tôi đâu mà anh lo. Nếu chúng tôi bị bắt thì tính sau.
Nghe tôi nói vậy, X đưa cho tụi tôi cái địa bàn. Súng, địa bàn, lựu đạn đã có đầy đủ. Tôi yên tâm. Đêm hôm đi nằm đường, chúng tôi nhận được lệnh phải ra gác ở hồ nước 50 để cho sáng hôm sau đoàn quân được bổ xung tới an toàn. Tôi chẳng biết hồ nước 50 ở đâu. Trên đường tới hồ nước 50, chúng tôi đi qua một cái chốt. Chốt này là chốt cuối. Thằng tiểu đội trưởng của chốt này là bạn cùng quê với X. Hắn cho X biết là hồ nước 50 rất nguy hiểm. Ra đó phải cẩn thận vì tụi Miên đi đánh ở đâu cũng ghé đó tắm rửa rồi chúng mới đi tiếp. Tôi đứng gần đó nên nghe lóm được. Lúc đó trời vừa sập tối. Nhìn vô cánh rừng đằng trước chỉ thấy mờ mờ. Khi X trở ra tôi hỏi:
-Mình đi tiếp hay sao?
X nói thật với tôi:
-Nguy hiểm lắm anh Tài ơi. Nghe bạn tớ bảo hồ nước 50 nguy hiểm lắm. Ra đó sợ không còn sống sót trở về, nên tớ chưa biết quyết định thế nào.
Ngần ngừ một chút X nói:
-Thôi mình đi.
Tôi suy nghĩ, thằng bạn X nói chắc là đúng. Tôi không muốn ra đó. Tôi bàn với X:
-Tại sao chúng ta không ngủ lại đây? Bạn anh có 10 người, chúng ta có 10 người, nhập lại 20 người chia nhau gác an toàn hơn.
-Để tớ nói chuyện với bạn tớ xem sao.
Vì chốt của bạn X là chốt cuối, nghe X nói, thằng tiểu đội trưởng này rất mừng và đồng ý cho chúng tôi ngủ lại cho vững. Tối đó, Vinh và tôi ngủ ở sát mé đường. Khi trời còn tờ mờ sáng, tôi thấy có những bóng đen đang đi vô. Tôi vội vàng chạy tới X cho anh biết. X nhận diện được quân bộ đội. Tôi nói với X:
-Tụi mình phải đi ra đón họ. Khi gặp người đầu tiên, anh phải hỏi thăm xem họ có yên không. Nếu họ yên thì anh phải nói chốt của mình đóng ngoài đó cả đêm, mới đi vô trong này mở đường, rồi bây giờ ra lại. Để cho họ biết tối qua tụi mình có ra đó.
X gặp thằng tiểu đoàn trưởng hay phó gì đó, anh vồn vã:
-Chào thủ trưởng, trên đường đi có yên không?
Thằng thủ trưởng trả lời:
-Yên lắm.
X nói nói y như lời tôi dặn. Thằng thủ trưởng cười cười:
-Nhờ các đồng chí mà chúng tôi đi tới nơi yên bình. X dắt chúng tôi trở về vị trí đóng quân. Thấy tụi bộ đội mới tới chưa ổn định, tôi suy nghĩ: “Nhất định phải đi trong lúc này vì quân mới tới còn lộn xộn, không ai biết ai là ai; hơn nữa đoàn xe GMC vừa đổ quân tới sẽ chở bịnh nhân, người bị thương ra khỏi đây.
Tôi nói cho X biết ý định của tôi. X chúc chúng tôi thượng lộ bình an. Anh nói:
- Trên đường ra Sisophon, anh sẽ gặp trung đoàn 15. Bằng cách nào anh cũng phải qua khỏi trung đoàn 15 trước khi tôi đi họp giao ban. Tối nay tôi sẽ đi họp giao ban trễ để xin bổ xung quân. Các anh đi rồi không còn người gác. Nếu các anh bị tụi kiểm soát quân sự bắt ở chợ thì tôi sẽ nhận là cho phép các anh ra chợ mua thuốc.
Anh còn dặn chúng tôi khi đi đừng mang theo súng dài kẻo bị lộ. Súng ngắn thì chúng tôi đâu có. Ngay chính anh khi đi cướp đường buôn cũng chỉ mang theo cây K54 mà thằng TĐ phó gởi anh. Nghe lời anh X, chúng tôi không mang theo súng vì sợ lộ. Chỉ mang theo lựu đạn và địa bàn.
Như tôi đã kể, cùng bị bắt sang Miên với tôi có thằng Hoàng ở cùng xóm Thủ Đức. Trước khi lên Quang Trung, cha mẹ nó có gởi nó cho tôi nhờ tôi để ý và giúp đỡ nó. Nó không ở cùng chốt với tôi. Hôm nay gặp nó, tôi đặn nó phải qua chốt tôi ở rồi cùng đi luôn nhưng nó sợ không vào. Tôi đợi, không thấy nó vào. Bạn của Vinh không đi được vì anh thuộc nhóm trinh sát, anh phải đi công tác. Tú cũng phải đi công tác nhưng trốn lại. Chúng tôi bốn người – tôi, Vinh, Tú, Vương đi luôn. Từ lúc rời Quang Trung đến ngày hôm nay, ngày chúng tôi bỏ đi tìm tự do, được khoảng hơn hai tuần.
Tôi nói cho Vinh, Vương, Tú biết. Họ vội vàng chuấn bị ba lô. Vinh mang theo ba lô gạo. Tôi liền giả bịnh, bị sốt. Tôi lấy cái khăn trùm lên đầu rồi đội thêm cái nón bo. Thằng cha tiểu đoàn trưởng Châu đang đứng gần xe GMC. Hắn đang đứng nhìn đám quân mới tới. Vừa thấy hắn quay đi, tôi vội nhảy lên xe GMC. Một thằng bộ đội thấy tôi nhảy lên xe, nó la lên:
-Đồng chí đi đâu thế?
-Ra trạm xá. Tôi bị sốt. Tôi trả lời.
Tụi bộ đội đứng ngổn ngang trên xe. Tôi vội vàng ngồi xuống lấy khăn che mặt. Tú và Vương nhảy lên cùng xe. Thằng bộ đội quay sang hỏi Vương đi đâu. Vương nói là đưa tôi đi trạm xá. Vinh thì không đi cùng xe với chúng tôi. Anh nhảy lên một chiếc xe thiết giáp. Chúng chở chúng tôi tới trung đoàn 15 thì trời xế chiều rồi. Chúng ngừng lại, bảo là không thể đi tiếp. Những người bịnh được mang vô hội trường dã chiến của bộ chỉ huy. Tại đây chúng tôi gặp lại Vinh. Nhớ lại lời dặn của X: “Bất cứ giá nào cũng phải ra khỏi trung đoàn 15 đêm nay”, tôi lo lắng. Thấy tình hình không được ổn, kiểu này là bể rồi. Ngay lúc đó, Tú hay Vinh tôi không nhớ rõ chạy tới cho biết có một chiếc xe đang chuẩn bị phải đi công tác đêm nay. Xe này sẽ chở bịnh nhân ra trạm xá, mừng quá bốn anh em chúng tôi nhảy lên xe. Rất hên, thằng bộ đội chỉ hỏi chúng tôi đi đâu. Chúng tôi trả lời đi trạm xá. Cùng chung với chuyến xe này là những người bị thương, bị bịnh. Trước khi tới trạm xá, xe đi ngang qua chợ nơi mà X nói có hai cái nhà ngói đỏ. Tôi nghĩ mình phải xuống đây vì khi tới trạm xá rồi thì làm sao mà thoát ra. Trời lúc này đã tối. Tôi liền lấy tay đập mạnh ầm ầm vào hông xe. Thằng lái xe thắng lại. Tôi vừa la, vừa nhảy xuống xe:
-Cho tôi xuống đây.
Thằng lái xe cảnh cáo:
-Phải vào trạm xá, đi vòng vòng ở đây là chết đấy! Tụi nó sẽ giết đấy!
Tôi nói:
-Tôi muốn mua ít đồ rồi vô trạm xá sau. Các bạn tôi cùng nhảy xuống. Chiếc xe bỏ chạy. Tôi quay về phía bên phải nhìn thấy một ông Miên. Ông ta đang đứng ngậm ống vố, ở trần, mặc xà rông. Tôi đi tới, móc trái lựu đạn trong túi quần đưa vô hông của ông rồi đẩy ông đi. Ông nói gì đó bằng tiếng Miên, tôi đâu có hiểu. Tôi cứ đẩy ổng đi. Ông ta cũng đi rồi quẹo tới căn nhà, leo lên cầu thang. Chúng tôi đi theo, nhìn thấy cử chỉ, sắc mặt của ông; tôi biết ông rất là sợ.
Lên tới trên nhà, tôi thấy có thêm bốn người. Tôi đoán chắc là vợ và các con của ông - hai trai, một gái. Thấy hai đứa con trai to lớn, vạm vỡ; tôi nói với các bạn của tôi phải đề phòng.
Cả đêm tôi không ngủ mà ngồi canh cho các bạn tôi ngủ. Người Miên họ rất dữ, dao mác họ có nhiều nhưng chúng tôi chỉ gom lại những con mà chúng tôi thấy chứ không biết họ còn cất dấu ở đâu.
Trời vừa sáng, chúng tôi chào gia đình ra đi. Vinh tặng cho gia đình này ba lô gạo mà anh mang theo. Tú thức trước ra chợ. Tú có cuốn sách tự điển Việt-Miên trong đó có những câu đối thoại in sẵn. Tôi thấy Tú lật cuốn tự điển chỉ trỏ hỏi gì với con nhỏ bán hàng. Không ngờ con nhỏ này lại là con của xã trưởng ở vùng đó. Khi tôi vừa bước ra cửa, thằng xã trưởng chận tôi lại nói:
-Tâu Xiêm? (Đi Thái)
Rồi hắn ra hiệu chặt đầu và chỉ chúng tôi về hướng Pailin. Tôi đoán chắc hắn nói chúng tôi về lại đơn vị, qua Thái sẽ bị chặt đầu. Tôi quay qua Tú hỏi nói gì. Tú cho biết là chỉ hỏi đường qua Thái Lan thôi.
Biết bị lộ, tôi nói Tú lấy cuốn tự điển lật ra nói cho thằng xã trưởng là chúng tôi đi chợ rồi sẽ về đơn vị. Tôi bảo Tú và Vương giả vờ đi về hướng Pailin, bọc qua đường rầy xe lửa. Còn tôi và Vinh đi bọc đường chợ rồi vòng trở ra. Chúng tôi sẽ gặp nhau tại chỗ hai nhà ngói đỏ.
Chúng tôi bắt đầu đi. Tôi luôn luôn cầu nguyện với Chúa và Đức Mẹ cho chúng con thấy họ trước, đừng để họ thấy chúng con trước. Nếu mình thấy địch trước thì mình còn tìm cách xoay sở; địch mà thấy mình trước thì nó sẽ bắn mình chết. Vì vậy mà tôi mới còn sống tới ngày nay.
Chúng tôi đi trên một cánh đồng trống, thấy một cái rãnh đất đắp mô cao giống như ấp chiến lược. Tôi nhìn thấy tụi Miên đóng ngay đó. Không biết chúng nó thuộc phe nào. Thấy chúng tôi, chúng nó bắn. Chúng tôi chạy... Chúng tôi tiếp tục đi sâu về hướng bắc thì thấy một cánh rừng. Bên cạnh cụm rừng có một cái đìa lớn; tôi nghe tiếng tát nước, tiếng tụi Miên nói chuyện. Chúng tôi bò tới gần, trên tay cầm sẵn lựu đạn. Bất thình lình Tú la lên: -Bòn ơi bòn, un ơi un.
Tụi nó im lặng. Tôi bò lại gần thì không thấy đứa nào hết mà chỉ thấy mấy cây súng trên ụ đất. Thấy súng nên tôi sợ. Tôi ra dấu cho các bạn tôi im rồi bò lùi lại, chạy trở ra cánh đồng trống. Tụi nó rượt và bắn theo chúng tôi khoảng 5,6 phát. Tôi nhắm địa bàn lấy hướng bắc đi tới.
Lúc này trời đã về chiều rồi, chúng tôi tiếp tục chạy thì tới được cánh rừng thưa thớt toàn thấy cây da tỵ. Chúng tôi tính ngủ lại đây dưỡng sức rồi mai đi tiếp nhưng muỗi quá. Mở miệng ra là muỗi bay đầy vào miệng. Tôi lấy địa bàn nhắm hướng bắc chạy đi tiếp. Chạy chứ không dám đi vì muỗi quá. Khi mệt thì dừng lại vừa thở, vừa lấy nón đập muỗi. Khoảng 9 giờ sáng, bất chợt tôi nghe tiếng chửi thề bằng tiếng Việt giọng miền Nam:
-ĐM lội hoài, sáng sớm đã bắt lội rồi!
Giật mình, tôi dang hai tay ra hiệu cho các bạn tôi nằm xuống. Hên quá, đúng là có ơn trên che chở. Vừa nằm xuống thì chúng tôi thấy một toán bộ đội đang đi trên con đường đất đỏ. Thằng đằng trước đi cách tôi khoảng 3,4 thước. Chúng tôi nằm im không dám nhúc nhích khoảng 10,15 phút. Đợi cho đoàn quân đi qua tôi bò ra mé đường đất đỏ nhìn hai bên xem xét tình hình. Thấy êm, tôi ra hiệu cho nhóm bạn tôi bò tới. Tôi nói với bạn tôi bây giờ chạy từng thằng một. Tôi chạy trước, các bạn tôi nằm tại chỗ. Chạy qua bên kia đường, ngồi xuống quan sát không thấy gì; tôi ra hiệu cho người kế tiếp chạy. Khi cả ba người kia cùng qua đường, chúng tôi đi tiếp.
Chúng tôi đi ngang qua một vùng đất bằng phẳng. Có nhiều tên Việt Nam được khắc ngay đó. Tôi đoán có lẽ bộ đội VN bị chết rồi chôn ngay đây nhưng không biết có đúng không? Đang đi, tôi chợt nghe tiếng súng M16. Tôi mừng thầm vì có lẽ gần tới biên giới Thái. Tôi nói với các bạn cẩn thận rồi lấy địa bàn nhắm theo tiếng súng đi tiếp tới một ngã ba. Con đường đất đỏ này chia làm ba đường:
1. Đường trước mặt, lớn hơn hai đường bên phải và trái, thì không đi được vì có các cây lớn ngã xuống nằm chồng chất lên nhau lắp ngang luôn con đường.
2. Đường bên tay trái tôi thấy có nhiều dấu giầy dép đi qua đi lại lộn xộn.
3. Đường bên tay phải dẫn vào một cánh rừng. Suy nghĩ một hơi tôi quyết định đi theo con đường trước mặt có những cây lớn lắp ngang vì những cây lắp ngang đường không phải tự nó bị gẫy đổ xuống mà do con người làm. Như vậy có lẽ đây là con đường tới Thái hay là quân Para muốn lắp lại để chặn thiết giáp của VC?
Chúng tôi đi xuống cái trũng thì bất chợt tôi gặp một thằng Miên mặc bộ đồ đen, quấn khăn ca rô đỏ trắng. Tôi khựng lại, nói với các bạn tôi:
- Móc lựu đạn ra, rút chốt sẵn sàng.
Tú nói:
-Để tôi mang cuốn sách ra hỏi đường qua Thái. Mấy anh yểm trợ cho tôi Tú rút cuốn sách tự điển Việt Miên đi xuống. Tôi đứng cạnh bìa rừng nhìn theo. Thằng Miên có vẻ sợ vì không thấy nó bỏ đôi nước trên vai xuống. Thấy thằng Miên giơ tay chỉ rồi giơ năm ngón tay lên. Tôi đoán 5 ngày, 5 tiếng hay 5 phút. Không lẽ 5 ngày nữa mới tới? Tôi lo, nhưng nghĩ lại từ chỗ chúng tôi đóng quân tới biên giới Thái chỉ hút tàn điếu thuốc là tới; còn chúng tôi cắt theo hướng bắc đi không lạc vì nhờ cái địa bàn thì có lẽ 5 tiếng là tới. Tôi hơi mừng. Thấy Tú cứ chỉ qua chỉ lại. Tôi sốt ruột, quay qua nói với Vinh và Vương:
-Thôi bây giờ ra luôn.
Chúng tôi chạy tới gần thằng Miên, tôi hỏi:
-Tâu Xiêm?
Nó gật đầu, giơ năm ngón tay. (Sau này mới biết là chỉ có 5 phút là tới). Tôi chỉ nó đi trước. Chúng tôi hai người kè hai bên thằng Miên. Đi một lát tôi thấy cái lều, bên trong có tiếng xè xè như tiếng cưa cây. Tôi xà tới, bạn tôi và thằng Miên đứng tại chỗ. Trong lều có 7 người, 6 sáu người đàn ông đang cưa cây và 1 người đàn bà đang nấu nước. Súng giắt trên xà ngang. Tôi lách vào. Chúng nó khựng lại giật mình ngồi, đứng im tại chỗ. Tôi phát tay ra dấu rồi gọi các bạn tôi vô. Thằng gánh nước đi theo vô luôn. Tôi gom súng vào một chỗ, ra dấu cho bọn chúng biết tôi để đây chứ không lấy. Khát nước quá, tôi quay sang bà Miên thì thấy bà chắp tay xá tôi lia lịa. Tôi chỉ ấm nước rồi chỉ miệng tôi. Bà vội vàng tìm ly. Vương, Vinh, Tú cũng xin uống nước. Tôi gườm gườm nhìn tụi Miên nhưng trong lòng tôi cũng rung vì cả thằng gánh nước tất cả là bảy thằng mà chúng tôi chỉ có bốn. Chúng nó vẫn đứng trên dàn cưa.
Tôi vừa bước ra khỏi lều thì thấy một đoàn quân từ hai bên đường đang đi tới. Cũng từ hướng thằng gánh nước đi tới. Một thằng đi giữa che cây dù. Tôi đoán nó là sĩ quan. Thấy kiểu ăn mặc của toán quân này tôi chắc chắn đây là quân đội Para/Nol Lon. Hơn nữa, X cũng nói với tôi đi theo hướng bắc sẽ gặp tụi Para và chúng tôi đi đúng theo hướng bắc. Nhóm lính Miên này ăn mặc lôi thôi, quần áo lộn xộn, không đồng phục. Đứa thì mặc quần lính áo bà ba. Đứa thì mặc áo lính nhưng quần pajama. Đứa đi giầy, đứa đi dép. Tôi nóí với bạn tôi:
-Tụi nó đông lắm, bây giờ tôi sẽ ra giữa đường giơ tay lên, trong này các anh cũng phải giơ tay lên không nó bắn là chết.
Nói xong tôi gài chốt lựu đạn lại bỏ vào túi quần, thì thầm cầu nguyện với Đức Mẹ “xin Mẹ gìn giữ con”. Tôi đếm 1,2,3 cho các bạn tôi biết rồi ra giữa đường giơ tay lên. Đoàn quân còn cách tôi khoảng 5,6 thước. Thằng sĩ quan đứng chết trân. Đám lính có thằng nằm xuống đất im ru. Hên là súng chưa lên đạn vì chúng nó không ngờ chúng tôi vô ngay bộ chỉ huy nên chúng không đề phòng. Bên trong lều cưa các bạn tôi cũng giơ tay lên. Bảy thằng trong lều cũng đứng im. Khoảng 3,4 phút sau, thằng sĩ quan nói gì đó thì tụi lính lên đạn rắc rắc. Chúng tới bên tôi, lục xét người tôi. Lục hoài mà chúng không thấy trái lựu đạn vì quần của tụi bộ đội có may túi quần rất sâu. Tôi giơ tay vừa chỉ xuống túi quần mà chúng cũng không thấy. Tôi để một tay lên trời, một tay cho vào túi thì tụi nó chận tay tôi lại. Lúc đó mới lôi ra được trái lựu đạn. Sau đó chúng đứng vòng chung quanh tôi, bao tôi vào giữa. Lúc này tôi biết tôi sống vì kiểu đứng của tụi nó như vậy nếu có bắn thì đạn thằng này sẽ trúng thằng kia. Tên sĩ quan tới gần tôi nói một tràng tiếng Miên rồi tụi lính lấy mũi súng đẩy tôi đi. Các bạn tôi cũng bị đẩy đi. Đi qua lều cưa một chút có một thằng Miên tới bên tôi. Nó chỉ đôi giầy và dây thắt lưng quần. Tôi gật đầu. Nhìn lên đầu thấy cái nón bo, nó chỉ. Tôi cũng gật đầu. Nó vội vàng lột cái nón, tháo sợi dây nịt nhưng không tháo ra được. Nó liền cúi xuống tháo được một chiếc giầy rồi đưa cho tôi chiếc dép của nó. Đang tháo chiếc giầy kia thì thằng sĩ quan đi tới, la một tràng tiếng Miên. Nó ngừng lại không dám tháo tiếp. Nó và tôi mỗi người đi một chiếc dép, một chiếc giầy.
Ngay tại chỗ bị lột giầy có con đường. Chúng đẩy tôi quẹo vào đó. Trong đó có một cái miễu nhỏ, giống như cái am ở dọc đường. Từ thằng sĩ quan tới lính đều bỏ súng xuống mọp sát đầu xuống đất rồi mới đi qua. Chúng đẩy tôi xuống, dí đầu tôi xuống đất. Tôi cũng làm y như tụi nó. Qua cái am một chút, chúng ra hiệu cho chúng tôi ngừng lại gần cái cây. Chúng mang tới cho chúng tôi mỗi người một hộp cá nhỏ và cơm cho chúng tôi ăn. Tôi ăn ngon lành vì đói quá. Chúng mang ba người bạn tôi đi chỗ khác. Chúng bảo tôi ngồi xuống. Nhìn sang cái cây thấy đầy kiến vàng chạy lên chạy xuống không ngớt. Có một người đàn bà với mấy thằng lính đi tới tôi. Bà ta mặc áo bà ba như kiểu miền Tây, quấn xà rông. Bà nói giọng lớ lớ như người Tàu. Tiếng Việt cũng bập bẹ :
-Khai ra, bốn người ở đây, còn sáu người nữa đâu?
Tôi lắc đầu:
-Chỉ có bốn người thôi. Chúng tôi không thích VC. Bỏ đơn vị qua Thái, tìm đường tự do.
Bà ta khăng khăng:
- Không! Vô đây mười thằng, mới ra bốn thằng còn sáu thằng nữa đâu? Không khai ra thì chết.
Bà ta hỏi tiếp:
-Súng để đâu?
-Không có súng. Tôi trả lời.
-Không có súng, sao có đạn?
-Tôi đâu có đạn? Tôi ngạc nhiên.
Bà ta nói:
-Có người có đạn. Súng giấu đâu? Khai ra.
Thì ra Vương có mấy viên đạn trong túi nhưng không có súng. Chúng nói tôi là người chỉ huy của nhóm. Có lẽ tôi lớn tuổi hơn hết, nhìn già dặn hơn các bạn tôi, người râu ria, hai tay có dấu xâm khi ở tù ngoài Bắc nên tôi bị tụi Miên nghi ngờ là người chỉ huy của nhóm. Trời lúc này còn nắng, sắp về chiều, Hai thằng Miên cởi áo ngoài của tôi ra nhưng còn để lại cái áo thun bên trong. Hai thằng kéo tôi tới cái cây đầy kiến vàng. Kéo ngoặc tay tôi vòng ra sau cây rồi trói tay, chân tôi lại. Mặt trời chiếu ngay chỗ tôi ngồi. Ánh nắng gay gắt làm mồ hôi chảy nhễ nhãi; cộng thêm đám kiến vàng bu đầy đầu, đầy người cắn tôi không ngớt. Tôi gồng mình ngồi chịu trận. Bị đám kiến vàng cắn mà tôi chẳng làm sao được chỉ nhúc nhích cái đầu và cạ lưng vào gốc cây để gãi mà thôi. Tôi cầu nguyện cùng Đức Mẹ “Xin Mẹ cho con thoát khỏi kiếp nạn này”. Tôi rất tin tưởng vào Đức Mẹ vì từ lúc khởi hành cho đến khi bị tụi Miên bắt, Mẹ luôn luôn cho tôi thấy họ trước như lời cầu xin của tôi.
Chúng dẫn tôi tới một cái sân trống, ở giữa có một cái cột. Chúng bắt tôi ngồi xuống, ôm cái cột rồi cột tôi ngồi đó. Một thằng Miên cầm mã tấu, đi vòng vòng, thỉnh thoảng nó giơ mã tấu dọa chém cổ tôi. Tôi nhớ tới gia đình và hai con tôi. Biết mình sắp chết nhưng tôi vẫn bền lòng đọc kinh cầu nguyện với Chúa và Đức Mẹ che chở cho tôi.
Khoảng 3, 4 giờ sáng, chúng nó đưa tôi vô căn nhà lá. Vừa vô tới cửa, tôi thấy một đám lính Miên cầm súng đứng vòng vòng trong nhà từ hồi nào và ba người ngồi sẵn trên bàn tre. Chúng đẩy tôi ngồi xuống, lục lấy cái bóp. Hai thằng lính Miên cầm súng kề ngay sau lưng tôi. Một thằng Miên lai nói với tôi bằng tiếng Việt bập bẹ cho biết 3 người ngồi trên bàn là: sư đoàn trưởng (lai Pháp), cố vấn Thái Lan, và người tôi gặp hôm qua là Lục Thum.
Cố vấn Thái Lan mặc bộ đồ lính. Thằng thông dịch đứng ngay đầu bàn. Chúng đặt máy thâu băng trên bàn. Hai thằng lính Miên cầm súng kề ngay sau lưng tôi. Cố vấn Thái Lan bật máy ghi âm. Chúng bắt đầu điều tra. Chúng hỏi tên, đơn vi.... Tôi thật lòng trả lời những gì chúng muốn biết. Tôi nói rõ tôi mới qua Miên được hơn hai tuần rồi bỏ đơn vị đi tìm tự do. Tôi cũng nói tôi là lính của VNCH nhưng không biết tại sao lại bị bắt đi lính cho VC. Tôi nói tiếng Việt, thằng Miên lai dịch sang tiếng Miên Không biết sao mà chúng bắt tôi cởi áo thun tôi đang mặc.
Tôi có xâm trên bắp tay và trên ngực. Trên ngực là huy hiệu TQLC. Vết xâm này do anh Nguyễn Ngọc Hùng TĐ2 Trâu Điên bị bắt hồi tái chiếm cửa Việt. Hùng bị nhốt tại K4. Anh vẽ và xâm cho tôi khi chúng tôi từ Quế Phong đưa về đồng bằng ở Đập Sắt.
Hồi xưa khi bị bắt tù binh, có toán nhảy toán của Tr/u Quang thuộc phòng 7 BTTM hình như nhảy ra Quảng Trị bị bắt ra Bắc, trong đó có Hoà mang máy cho toán này biết tiếng Anh. Tôi nhờ anh viết cho tôi câu bằng tiếng Anh: “Vì tổ quốc, quên hết tình yêu cá nhân. Tất cả cho tổ quốc và tự do.” Hoà viết cho tôi như thế này: “By country, forget loving. All for my country and freedom”. Tôi nhờ bạn tù xâm lên bắp tay tôi.
Thằng sư đoàn trưởng lấy tay đánh lên đầu tôi mấy cái sau khi thằng thông dịch nói với tôi là trong phù hiệu TQLC trên ngực tôi có cái ngôi sao, vì vậy nó chắc chắn tôi là sĩ quan VC mà sao tôi vẫn ngoan cố không khai sự thật. Thằng sư đoàn trưởng chửi một tràng tiếng Miên rồi rút cây colt giơ lên đầu tôi, tức thì thằng Thái Lan chồm tới nắm cây súng đẩy lên trời. Thằng sư đoàn trưởng tức mình lấy bá súng đánh ngược vào mặt tôi trúng miệng. Hai cái răng cửa bị gãy nhưng vẫn còn rung rinh dính tòng teng trong miệng, Miệng tôi bị sưng lên, máu họng chảy ra nhiều lắm. Vừa đánh tôi xong thằng sư đoàn trưởng ra lệnh bằng tiếng Việt bập bẹ:
-Bắn!
Tức thì hai thằng Miên lôi tôi ra cửa liền. Đi khoảng 5-6 thước thì cố vấn Thái Lan chạy theo ôm tôi lại. Hai thằng Miên cố lôi tôi đi. Cố vấn Thái Lan nắm tay tôi lôi ngược trở lại, nó quay đầu lại giận dữ la rất lớn tiếng với hai thằng Lục Thum và thằng sư đoàng trưởng. Nó đẩy tôi ngồi xuống, đuổi thằng thông dịch Miên đi. Tôi thấy một người mặc bộ quân phục Nhảy Dù, đội mũ đỏ, giầy bốt đồ sô gom ống quần đàng hoàng đi ra. Tôi mừng quá vì nghĩ chắc đây là lực lượng phục quốc của mình. Anh ta nói với tôi bằng tiếng Việt thật rõ ràng:
-Anh ơi, anh phải khai ra tất cả sự thật. Nếu anh không khai thật ra, họ sẽ giết anh liền. Tôi là người Việt Nam.
Thì ra chúng đổi người thông dịch. Tôi vội vàng trả lời:
-Anh làm ơn nói dùm tôi. Tôi là lính của VNCH. VC bắt tôi đi lính cho họ. Tôi mới sang đây được hơn hai tuần tôi liền bỏ đơn vị tìm tự do. Lúc nãy họ hỏi, tôi cũng nói y như vậy mà không biết sao họ đòi bắn tôi. Nếu anh không tin anh mở máy ra. Anh nghe rồi anh dịch lại cho họ nghe.
Cố vấn Thái Lan mở máy nghe lại, người thông dịch thứ hai này vừa nghe máy vừa thông dịch. Tôi thấy ánh mắt của thằng sư đoàn trưởng dịu lại. Cố vấn Thái Lan nhìn huy hiệu TQLC trên ngực và câu tiếng Anh trên bắp tay rồi la lên: “Mờ rin cô? Mờ rin cô”? Tôi gật đầu: “Mờ rin cô. Việt Nam” .
Cố vấn Thái Lan cởi trói cho tôi rồi nhìn anh thông dịch nói gì đó. Anh hỏi tôi về đời lính TQLC của tôi. Tôi kể cho anh tôi là TQLC miền Nam, bị bắt ra Bắc năm 1972, được thả ra 1975, bị bắt đi bộ đội 1980.
Sau khi anh thông dịch nói lại thì thằng sư đoàn trưởng nhìn dấu xâm trên tay, trên ngực của tôi. Thấy nét mặt nó nguội lại và có thiện cảm. Hắn vỗ vai tôi, cũng bằng tiếng Việt bập bẹ nói:
-Lầm. Lầm. Đừng buồn.
Hắn đưa ngón tay trỏ lên trời rồi nói: “Hồ Chí Minh”.Biết nó chưa tin mình, lanh trí tôi bỏ ngón tay trỏ xuống đất. Hắn lại đưa ngón tay trỏ xuống đất, nói: “Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ”. Tôi lắc đầu, đưa ngón tay trỏ lên trời. Quay qua anh thông dịch, nó nói gì đó, anh ta dịch lại là:
-Ông ta xin lỗi anh. Ông muốn anh ở lại chiến đấu với ông. Khi ông lấy lại đất nước của ông rồi ông sẽ giúp anh lấy lại đất nước Việt Nam của anh.
Tôi ngần ngừ suy nghĩ. Từ khi ra khỏi tù tôi muốn đi tìm phục quốc. Hôm nay lại thấy có người mặc nguyên bộ quân phục Nhảy Dù nên tôi nghĩ rằng chắc quân phục quốc cũng nằm gần đâu đây. Tôi nhờ anh thông dịch nói lại: -Tôi nghe đồn rằng lực lượng phục quốc của chúng tôi hình như ở trong rừng, trong đất nước Miên hay bên Thái Lan. Tôi muốn đi tìm họ trước.
Thằng sư đoàn trưởng gật đầu, nói cho anh thông dịch: “Ngày mai ông sẽ cho anh đi gặp Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ”.
Nghe nó nói như thật làm tôi vui mừng. Thằng sư đoàn trưởng nhờ tôi viết một lá truyền đơn để cho người mang đi rải. Đại khái là kêu gọi tụi bộ đội bỏ hàng ngũ đi tìm tự do. Nó sẽ đợi và giúp họ đi qua Thái. Nó cũng hỏi tôi về ba người đi chung với tôi có phải lính miền Bắc không. Tôi biết Vinh và Tú gia đình là Bắc di cư 54, còn Vương người miền Nam. Họ đều bị bắt đi bộ đội, không có ai dính líu với VC. Thằng sư đoàn trưởng nói tôi phải bảo đảm, nếu nó điều tra ra họ là lính miền Bắc, nó sẽ tính chuyện với tôi. Tôi bằng lòng. Hắn ta nói tôi đi tắm. Mình mẩy tôi toàn máu. Hai răng cửa chân bị gãy rồi nhưng chưa rớt ra vì miếng thịt còn dính lại trong nứu.
Ra tới bờ sông tôi gặp lại thằng Miên đã lột chiếc giầy của tôi hôm qua. Thấy tôi, nó lật đật chỉ chiếc giầy còn lại. Tôi cúi xuống cởi chiếc giầy đưa cho nó. Nó cũng đưa lại cho tôi chiếc dép. Nó quên không lấy sợi dây nịt. Sợi dây nịt này tôi rất quý. Nó là sợi dây thắt lưng TQLC tôi giấu được trong suốt thời gian bị tù ngoài Bắc. Nhưng sau này qua trại tỵ nạn tôi cũng bị mất cắp.
Bờ sông đầy phụ nữ Miên đang tắm và giặt đồ. Thằng Miên dắt tôi đi tắm đẩy đẩy tôi xuống nước. Đang tần ngần, tính rửa mặt thì có lệnh bắt tôi trở lại căn nhà lá . Người thông dịch cho tôi biết là họ sẽ cho tôi đi ngay bây giờ. Sau này tôi gặp lại người thông dịch trong trại tỵ nạn mới biết anh tên Đệ. Anh bị bắt đi bộ đội nhưng cũng bỏ đi tìm tự do. Anh bị bắt tại đây và bị bắt làm lính cho họ. Thằng sư đoàn trưởng nhận anh làm con nuôi. Người đi rải truyền đơn bị chết. Sau khi chúng tôi đi rồi, anh trốn tới hội Hồng Thập Tự xin tỵ nạn. Thằng sư đoàn trưởng vẫn thường tới trại tỵ nạn dụ Đệ trở lại nhưng Đệ nhất định không chịu trở về. Những người bị bắt tại đó được hội Hồng Thập Tự đổi gạo và mang họ sang Thái. Anh cho biết tại cái bàn tre, không biết bao nhiêu người Việt Nam bị bắn ngay đó. Khi mới tới trại tỵ nạn, anh bị dân tỵ nạn đánh rất dã man vì những người đàn bà, con gái bị tụi Para này bắt được đã bị chúng nhốt lại; hằng đêm chúng muốn ai, chúng bắt Đệ mang họ tới để chúng hãm hiếp. Họ nhận ra anh, thế là họ xúm lại đánh hội đồng. Khi nghe tin anh bị đánh, tôi chạy đi tìm. Tôi la lên: “Anh này là người cứu tôi. Không có anh tôi đã bị tụi Para giết rồi.” Đệ bị đánh dập phổi phải đi nhà thương.
Chúng cột tay tôi ngược ra sau và bịt mắt tôi lại. Lúc này tôi cũng chưa gặp lại các bạn tôi. Tôi được đẩy lên xe. Lên xe, nghe tiếng nói chuyện tôi mới nhận được ba người cùng nhóm tôi. Các bạn tôi không ai bị đánh. Chúng chở chúng tôi đi một hồi lâu tôi nghe nhiều tiếng trực thăng lên, xuống. Tôi được đưa xuống xe mắt vẫn bị bịt, tay vẫn bị trói. Tôi bị đẩy ngồi xuống. Có người nhét vào miệng tôi điếu thuốc và mở bia đổ vào miệng tôi. Vừa hút thuốc vừa uống bia lúc này tôi cảm thấy thật hạnh phúc.
Hút chưa tàn điếu thuốc thì có lệnh tiếp tục đi. Chúng tôi được đưa tới Aran. Tới Aran, chúng tôi được mở khăn bịt mắt ra. Tôi nhìn chung quanh là hàng rào bằng tôn. Nhà cửa đều là hai tầng. Aran là trại kỷ luật nhốt lính Thái. Chúng tôi bị nhốt chung với tụi lính Thái. Tôi gặp hai anh Việt Nam - một người tên Phúc TĐ11 Dù. Họ cũng đi vượt biên như chúng tôi và cũng bị nhốt tại đây.
Nhốt tại đây được một đêm thì bốn đứa chúng tôi được chở đi tiếp. Chúng tôi được đưa tới khu có những căn nhà xây kiểu như nhà Thượng rất đẹp. Tại đây tôi thấy toàn phụ nữ. Chỉ có hai người đàn ông là hai người mang chúng tôi tới. Chúng tôi được ăn uống đầy đủ. Thức ăn, cơm, canh, thịt để từng ngăn riêng trong hộp từ nhà hàng mang tới. Họ đối xử với chúng tôi rất tốt. Chúng tôi bị hỏi cung. Thật ngạc nhiên những cô gái hỏi cung chúng tôi rất đẹp, nói tiếng Việt rành rẽ như tiếng mẹ đẻ. Họ hỏi tên, quê quán Việt Nam ở đâu? Qua Miên đóng ở đâu? Đơn vị nào? Đường đi như thế nào? Tới đâu bị bắt?... Nói tới đâu, họ ghi chép tới đó. Tới chiều, chúng tôi được đưa tới trại tỵ nạn NW9. Chúng tôi được người trong văn phòng trại ra cổng tiếp nhận rồi mang vô trong trại.
Từ lúc sang Miên đến lúc chúng tôi bỏ hàng ngũ để tìm tự do hơn hai tuần. Từ lúc bỏ hàng ngũ đến khi bị Para bắt khoảng hai đêm, ba ngày. Câu chuyện của tôi là một trong hàng triệu câu chuyện thương tâm của người Việt Nam đi tìm tự do. Nhưng tôi là một trong những người may mắn vì biết bao nhiêu người bị hãm hiếp hoặc đã chết cho hai chữ tự do. Suy nghĩ lại lời nói của Đệ: “Tại cái bàn tre này, không biết bao nhiêu người Việt Nam bị bắn ngay đó” và nhớ lại vùng đất bằng phẳng tôi đi ngang qua có những nấm mồ có khắc tên người Việt Nam. Có lẽ đó là những nạn nhân Việt Nam bị bắn ngay cái bàn tre chăng?
Đường đi tìm tự do của tôi quá gian nan, đầy chông gai. Tôi đã phải trả giá rất đắt bằng tính mạng, máu và nước mắt của mình nên tôi rất quý hai chữ tự do.
Nhờ ơn trên - Chúa và Mẹ Maria đã gìn giữ, che chở, và nhận lời cầu xin của tôi. Luôn luôn cho tôi thấy họ trước, không cho họ thấy tôi trước. Nhờ được huấn luyện trong quân trường Rừng Cấm, tôi đã học được những bài học quý giá và đã áp dụng những bài học đó trên đường đi.
Nhờ cái huy hiệu TQLC mà tôi gọi là ông thần TQLC, tôi mới thoát nạn.
Tới giờ này tôi vẫn còn biết ơn X. Không có anh, không biết chúng tôi đi có thành công hay không? Bị VC bắt lại, hay bị chết trong tay Khmer Rouge cũng không chừng.
Tạ ơn Chúa và Mẹ Maria, cám ơn anh X, cám ơn cố vấn Thái Lan, cám ơn anh Đệ thông dịch viên đã giúp tôi, cám ơn anh Hòa đã viết cho tôi câu tiếng Anh, cám ơn anh Nguyễn Ngọc Hùng TĐ2 Trâu Điên đã vẽ và xâm cho tôi ông thần TQLC.
MX Nguyễn Tấn Tài WI
__________________
LOÀI KHỈ TRỞ THÀNH LOÀI NGƯỜI MẤT TRIỆU NĂM
LOÀI NGƯỜI MUỐN TRỞ THÀNH LOÀI KHỈ TRƯỜNG SƠN HÃY GIA NHẬP ĐẢNG CS VN
HÃy CÓ Ý THỨC HỆ TỰ HỎI " TÔI ĐÃ LÀM GÌ CHO TỔ QUỐC , ĐỪNG HỎI TỔ QUỐC ĐÃ LÀM GÌ CHO TÔI
The Following 2 Users Say Thank You to hoanglan22 For This Useful Post:
Về dân sự làm văn phòng thì gọi là thư ký đó florida80 .Riêng về quân đội thì không dùng từ thư ký , bởi vì Quân đội thì chia làm nhiều ban . Lục quân thường có ban 1 , 2 , 3, 4 ,5 . Riêng về HQ cũng có nhiều ngành và các ban về hệ thống này thì HL không rõ nhiều cũng như về KQ .
Nói chung về Tổ chức Quân đội VNCH Lục quân , HQ , KQ và nhiều đơn vị khác nữa đều có hệ thống riêng của mỗi quân chủng:hafppy :
Cho gởi lời thăm đến ba của N .Y
Mến nhiều
__________________
LOÀI KHỈ TRỞ THÀNH LOÀI NGƯỜI MẤT TRIỆU NĂM
LOÀI NGƯỜI MUỐN TRỞ THÀNH LOÀI KHỈ TRƯỜNG SƠN HÃY GIA NHẬP ĐẢNG CS VN
HÃy CÓ Ý THỨC HỆ TỰ HỎI " TÔI ĐÃ LÀM GÌ CHO TỔ QUỐC , ĐỪNG HỎI TỔ QUỐC ĐÃ LÀM GÌ CHO TÔI
Last edited by hoanglan22; 11-09-2018 at 05:42.
The Following 2 Users Say Thank You to hoanglan22 For This Useful Post:
Hình như là Trung Sĩ thường .. đánh Việt Cộng ... Ha Ha Ha
Khi N.Y lớn lên thấy Ba chụp hình với cây súng ... Thấy hào hùng trong bộ quân phục VNCH......
Sao đó giải ngũ ... Làm Thư Ký cho Hãi Quân... đó chứ
Ba của N.Y đã mất gần hơn 1 năm rồi................. ..
Cảm ơn Chú H.L đã gọi lời thăm hỏi..đến Ba.......
Hình như là Trung Sĩ thường .. đánh Việt Cộng ... Ha Ha Ha
Khi N.Y lớn lên thấy Ba chụp hình với cây súng ... Thấy hào hùng trong bộ quân phục VNCH......
Sao đó giải ngũ ... Làm Thư Ký cho Hãi Quân... đó chứ
Ba của N.Y đã mất gần hơn 1 năm rồi................. ..
Cảm ơn Chú H.L đã gọi lời thăm hỏi..đến Ba.......
Vinh danh người chiến sĩ đã cầm súng bảo vệ cho quê hương .Nay đã nằm xuống TỔ QUỐC GHI CÔNG . Thành kính phân ưu
__________________
LOÀI KHỈ TRỞ THÀNH LOÀI NGƯỜI MẤT TRIỆU NĂM
LOÀI NGƯỜI MUỐN TRỞ THÀNH LOÀI KHỈ TRƯỜNG SƠN HÃY GIA NHẬP ĐẢNG CS VN
HÃy CÓ Ý THỨC HỆ TỰ HỎI " TÔI ĐÃ LÀM GÌ CHO TỔ QUỐC , ĐỪNG HỎI TỔ QUỐC ĐÃ LÀM GÌ CHO TÔI
Toán OHIO FOB2 KONTUM 1966-1967
Hàng đứng (từ trái sang phài)
Văn Minh Huy, Wong A Cầu, MSG Richard J. "Dick" Meadows, 1st Lt. Lê Minh, SFC James A Simpsons, SFC N. "Chuck" Kerns, Trần Can và Trương Dậu
Hàng quỳ (từ trái sang phài)
Liêu A Sáng, Nguyễn Kim Trạch, Trương A Nhục và Lý A Dưỡng
Đối với người Âu Châu, con số 13 là số xui xẻo, con số tối kỵ. Nếu con số này lại rơi vào ngày thứ Sáu thì càng tối kỵ hơn nữa. Riêng về phần tôi, dạo còn đi học hay thời gian trong quân ngũ, tôi cũng chẳng kiêng cữ gì với số 13 này cả… Thứ Sáu ngày 13 nếu là ngày không tốt, nếu là ngày xui thì chỉ dành riêng cho người Âu Châu mà thôi… Nhưng đối với Đoàn Khánh Hòa 13 này, con số 13 là con số mạt rệp, con số xui xẻo tận mạng, con số đau thương tang tóc.
Tháng 6 năm 1966, buổi sáng thời tiết ở Kontum thật là mát mẻ. Bầu trời trong xanh và cao thăm thẳm. Tôi có thói quen ngày nào cũng phải nhìn trời để rồi liên tưởng đến thời tiết mỗi ngày. Buổi sáng trời trong xanh, trần mây cao như thế này thật là lý tưởng cho những chuyến hành quân xâm nhập hay triệt xuất. Thật ra các chuyến công tác xâm nhập thường vào buổi chiều, mà buổi chiều ở vùng Tam Biên thay đổi thất thường. Trời đang cao thăm thẳm không một tàn mây, rồi mây đen ở đâu bỗng ùn ùn kéo tới thật thấp, tưởng chừng như là đà ngọn cây. Tầm nhìn cao và xa không qúa 100 thước, do đó thường gây trở ngại cho các chuyến hành quân nhưng lại là yếu tố thuận lợi cho các đoàn quân Cộng Sản Bắc Việt trên hành lang Trường Sơn vùng 3 biên giới.
Tôi vừa nhận được lệnh hành quân chiều hôm qua. Sáng nay khoảng 10 giờ thì bay không thám. Bây giờ mới 7 giờ rưỡi sáng, còn sớm qúa! Tôi muốn trở vào giường nằm nán thêm ít phút để suy nghĩ về những ngày phép sắp tới, khi chuyến hành quân này chấm dứt. Niềm vui của những ngày về phép Sàigòn, những ngày được sống cạnh Liên khiến tôi bỏ ý nghĩ vào giường nằm lại. Tôi quay về phòng lấy gói thuốc lá và bước qua Câu Lạc Bộ uống cà phê. Đang ngắm những giọt cà phê từ từ rơi xuống đáy cốc và nghĩ đến bức thư của Liên vừa nhận được hôm qua, cho biết là đã mang thai được 2 tháng và hỏi tôi muốn đặt tên con là gì? Tôi thì thích con trai, Liên thì muốn con đầu lòng là con gái… Đang mải suy tư bỗng giật mình vì tiếng của Trung Sĩ Phát HSQ Ban 3:
-o- Trung Úy, 10 giờ sáng nay Trung Úy bay không thám. Xe Jeep Ban 3 đã chuẩn bị sẵn sàng chở Trung Úy ra phi trường đang đậu ở TOC. Trung Tá nhắc Trung Úy ra phi trường đúng giờ, đừng để tụi Mỹ nó chờ!
-o- ”Con c…” – Tôi muốn chửi thề tiếp theo nhưng vội tốp lại. Tại sao ông xếp nào cũng có tính lo xa? Các ông ấy đâu có biết những điều thiếu tế nhị đó thường làm bọn Sĩ Quan trẻ chúng tôi tổn thương tự ái. Rồi tôi tự nhủ ”Quân Đội là vậy đó. Buổi sáng trời đẹp như thế này xì nẹt làm gì?”. Nghĩ thế tôi bèn cười và nói với Trung Sĩ Phát:
-o- Ngồi xuống đây, còn sớm mà… Cà phê sữa nhé?
Qua phút ngượng vì tôi xì nẹt bất tử, Trung Sĩ Phát ngồi xuống nói:
-o- Bản đồ đã làm xong. Em đã khoanh tọa độ các bãi đáp theo như không ảnh dự trù. Có điều các bãi đáp đều qúa xa mục tiêu!
-o- Tao biết… Ban 2 và Ban 3 đã thuyết trình hôm qua rồi. Mày sợ ở vùng mục tiêu không có bãi đáp triệt xuất phải không?
Vì bảo mật, các mục tiêu hành quân chỉ giới hạn cho một số người biết. Hạ Sĩ Quan Ban 3 như Trung Sĩ Phát thì chỉ biết làm bản đồ hành quân, còn nhiệm vụ hành quân và tin tức tình báo thì biết một cách hạn chế. Nhưng vì phục vụ ở Ban 3 Chiến Đoàn từ lâu, phụ trách đánh máy giải trình các cuộc hành quân, do đó Phát cũng đoán được tính chất của mục tiêu và nhiệm vụ cuộc hành quân này. Thật ra nhiệm vụ chính của cuộc hành quân này vẫn là thám sát, báo cáo và hướng dẫn phi cơ oanh kích. Nhiệm vụ phụ là ”bắt tù binh”. Có điều tôi thấy hơi khác lạ là trước nay thường có lệnh chuẩn bị hành quân từ trước. Sau đó, toán được đưa vào Khu Cấm, nội bất xuất – ngoại bất nhập. Xong đâu đó, Toán Trưởng mới nhận được lệnh hành quân; tham dự thuyết trình với các Sĩ Quan Ban 2 và Ban 3 với các không ảnh mới nhất; sau đó đi bay không thám để chọn bãi đáp. Ở nhà Toán Phó tùy theo tính chất mục tiêu và nhiệm vụ hành quân, liên lạc với Ban 4 để trang bị đầy đủ theo nhu cầu.
Toán ở trong Khu Cấm thường thì 2 hay 3 ngày. Trong thời gian này, chỉ có Toán Phó và Toán Trưởng bận rộn thôi. Toán viên chỉ lo lau chùi vũ khí, chuẩn bị các quân dụng cần thiết mang theo cho phù hợp với nhiệm vụ chuyến công tác. Trước khi đi hành quân, cả toán được xe chở ra sân bắn để thử súng. Ngoài ra, cả ngày toán chỉ ở trong Khu Cấm, nằm nghe nhạc, thục bi-da và xem báo PlayBoy. Báo PlayBoy thì các HSQ cố vấn toán cung cấp không thiếu.
Lần hành quân này, nếu hôm nay tôi bay không thám, chọn được bãi đáp rồi thì chiều nay là ”go” ngay. Mấy thằng em tôi trưa nay mới phải vào Khu Cấm, trang bị và thử súng cũng nội trong buổi chiều. Gấp qúa nhưng tụi nhỏ nó khoái. Làm sớm nghỉ sớm! Tôi lại nghĩ đến buổi thuyết trình chiều qua. Nhìn vẻ mặt thật quan trọng của Trung Tá Cold Cố Vấn Trưởng và Trung Tá Chiến Đoàn Trưởng sau khi được SQ Ban 2 và Ban 3 cho biết là mức độ xâm nhập của địch vào vùng Benhet rất cao. Hình ảnh do vệ tinh chụp được cho thấyxe vận tải và bộ binh của địch di chuyển rất rõ. Tin tức tình báo như thế này thì xếp vào loại A rồi! Nhiệm vụ chuyến hành quân này là: quan sát, chỉ điểm cho khu trục oanh kích các đoàn quân xa và các đơn vị địch. Ngoài ra còn tìm các kho tiếp liệu quanh vùng này.
Tin tình báo cho biết địch sẽ chuẩn bị tấn công vào quận Tân Cảnh hoặc thị trấn Dakto. Tôi cũng khoái nhiệm vụ của cuộc hành quân này, vì không phải trang bị nặng cho các mục tiêu cần chất nổ hay mìn đặt trên đường. Có điều làm gấp như thế này sợ mấy thằng em của tôi thiếu chuẩn bị. Tôi quay qua Tr/Sĩ Phát:
-o- Anh chạy xuống toán gọi Thương Sĩ Sơn giùm tôi. Tôi chờ anh về uống cà phê và ăn sáng luôn. Phải dặn Th/Sĩ Sơn vài điều mới được…
Tôi đi bay sớm nhất cũng 1-2 giờ trưa mới về. Buổi chiều còn biết bao nhiêu việc phải làm và tôi lại nghĩ đến Thượng Sĩ Cố Vấn toán mới vừa đổi về hơn 3 tuần. Chúng tôi đã đi hành quân 5 ngày thực tập tuần trước. Tên này rất có kinh nghiệm trong ngành Lực Lượng Đặc Biệt. Nghe nói hắn là HSQ xuất sắc nhất của Liên Đoàn 5 LLĐB Hoa Kỳ. Toán tôi có 3 tên Mỹ, tên nào cũng có từ 10 đến 15 năm kinh nghiệm trong LLĐB. Cố Vấn Trưởng Thượng Sĩ Richard J. Dick Meadows. Hai Trung Sĩ kia là James A. Simpson và Trung Sĩ Charles N. Chuck Kerns. Hai Trung Sĩ này, một người là chuyên viên mìn bẫy và phá hoại, còn người kia là chuyên viên truyền tin kiêm cứu thương. Các Cố Vấn đối với toán rất thân mật, vui vẻ và cởi mở. Không biết đây là tiêu lệnh trên chỉ thị, hay là vì vào sanh ra tử chung với chúng tôi nên họ sống rất hòa mình với anh em toán.
Thượng Sĩ Sơn bước vào Câu Lạc Bộ cùng lúc với mấy Sĩ Quan trực thăng H-34. Tôi đẩy ghế và vẫy tay gọi họ lại ngồi chung, cùng lúc Trung Úy Huệ hỏi:
-o- Ê Minh Đen, cà phê sớm qúa vậy? Mày chuẩn bị hành quân phải không?
Tôi không trả lời vội, gọi mấy cô Câu Lạc Bộ xếp thêm ghế cho họ ngồi vây chung quanh bàn tròn rồi trả lời:
-o- Ừ có lẽ chiều nay, nếu thời tiết tốt.
Tôi quay qua Trung Úy Nghĩa, Trưởng Biệt Đội:
-o- Tụi mày xắp đổi Crew chưa? Sau lần hành quân này tao đi phép về Sàigòn, tụi mình rủ thằng Tuấn-con đi chơi.
Các Sĩ Quan trực thăng trong Phi Đoàn Long Mã 219 này nhìn vào chẳng giống các Sĩ Quan Không Quân khác một chút nào cả. Mặc đồ Biệt Kích, đồ Beo! Súng Colt 9 ly đeo xệ xệ, chẳng có lon lá gì cả. Nếu trong tay không cầm nón bay thì chẳng ai biết đây là những Sĩ Quan Không Quân hào hoa phong nhã. Nếu các binh chủng có sự đoàn kết sống chết với nhau thì phải kể đến các Phi Hành Đoàn này với các đơn vị hành quân của chúng tôi, như câu châm ngôn truyền tụng: ”Không bỏ anh em, không bỏ bạn bè”. Trong các chuyến hành quân ”Ra Đi Không Hẹn Ngày Về” của các toán Lôi Hổ, qua chiến công của các toán Biệt Kích mang về, một phần lớn cũng nhờ vào những phi vụ cảm tử của các phi công trẻ này. Với những nick-name mà các toán thường nhắc nhở như: Hùng Râu Kẽm, Nghĩa Lùn, Hiếu Chết, An Cào-Cào, v.v… Bất chấp hỏa lực phòng không của địch, bất chấp các toán Biệt Kích đang bị địch truy kích và sắp sửa bị tiêu diệt, những chàng trai này vẫn liều mạng đáp xuống.
__________________
LOÀI KHỈ TRỞ THÀNH LOÀI NGƯỜI MẤT TRIỆU NĂM
LOÀI NGƯỜI MUỐN TRỞ THÀNH LOÀI KHỈ TRƯỜNG SƠN HÃY GIA NHẬP ĐẢNG CS VN
HÃy CÓ Ý THỨC HỆ TỰ HỎI " TÔI ĐÃ LÀM GÌ CHO TỔ QUỐC , ĐỪNG HỎI TỔ QUỐC ĐÃ LÀM GÌ CHO TÔI
The Following User Says Thank You to hoanglan22 For This Useful Post:
Không những các toán Lôi Hổ coi các phi hành đoàn này như anh em, mà các phi công Hoa Kỳ yểm trợ hành quân chung cũng phải giở nón cúi đầu trước các phi vụ ”uống thuốc liều” của các chàng trai trẻ này. Chúng tôi thường nói đùa: Họ là những chàng trai hành quân mang dép… Lạnh cẳng, cần mang giầy, mang vớ thì đi chỗ khác chơi! Do đó, tuổi thọ của những chàng trai này thường ”gẫy cánh” ở luới tuổi dưới 30! Hôm nay, không có toán nào trong vùng hành quân nên bọn họ còn nhởn nhơ ở đây. Mỗi ngày, nếu có toán hành quân trong vùng thì 6 giờ sáng phải bay lên căn cứ yểm trợ Dakto ứng chiến rồi.
Tôi dặn Thượng Sĩ Sơn vài điều cần thiết rồi quay sang hỏi tiếp Nghĩa:
-o- Hôm nay mày được bao nhiêu ”chỉ” rồi? Tao nghĩ vài bữa nữa tụi mày đếm chỉ lia lịa đó.
Nếu người ngoài nghe câu này chắc chẳng hiểu gì cả. Không biết danh từ này do ai đặt ra, đến nỗi các bà lái phi công ở nhà cũng biết và xài danh từ này! Vì đảm trách các cuộc hành quân mà phi vụ nào cũng rất hiểm nghèo, do đó các Phi Đoàn H-34 và các Phi Đoàn O2 to BTL/KQ biệt phái sang, mỗi lần bay vượt biên giới đều được thưởng 3000 đồng. Số tiền này so với thời giá thì cũng khá lớn. Tuy nhiên, rất xứng đáng với nhiệm vụ nguy hiểm mà họ phải đảm trách.
-o- Nghĩa cười: ”Nướng hết rồi”.
Tên này coi chậm chạp và ít nói như con gái, nhưng bay bổng, mạt chược và binh xập xám thì một cây! Tôi xem đồng hồ và đứng lên nói: ”Thôi, tao đi trước!”, rồi quay sang bà Chủ Câu Lạc Bộ hô: ”Ghi sổ hết cho tôi”.
Sau hơn 2 giờ bay không thám trở về, vừa xuống xe đã thấy Thượng Sĩ Sơn đứng chờ sẵn. Tôi đưa ngón cái lên, ngầm cho Sơn biết là việc lựa chọn bãi đáp đã OK. Cầm lon Coke lạnh Thượng Sĩ Sơn đưa tới, tôi vừa đi vừa uống rảo bước xuống TOC. Trung Tá Chiến Đoàn Trưởng, Trung Tá Cố Vấn Trưởng, các Sĩ Quan Ban 2, Ban 3, các phi công O2, trực thăng võ trang, các trưởng phi cơ Việt, Mỹ đã có mặt ở dưới này rồi. Teo nheo mắt và bắt tay Thượng Sĩ Meadows. Cả hai cùng nói: ”Good afternoon!”.
Buổi thuyết trình này chỉ chú trọng về phần yểm trợ của Không Quân. Ý niệm hành quân cũng như lộ trình di chuyển của toán do Toán Trưởng dự trù. Thường thì Sĩ Quan Không Trợ Mỹ cho biết các lực lượng Không Quân yểm trợ cuộc hành quân cũng như các quy định thường lệ. Sĩ Quan FAC thuyết trình, chỉ định điểm hẹn 1, cho biết tần số liên lạc với khu trục A1-E đang trong vùng ở địa điểm 2. Lần này, toán chúng tôi hành quân đủ cấp số 12 người. Do đó, xâm nhập phải cần tới 2 trực thăng.
Vào tới địa điểm 1 – Biệt Đội 6. Chiếc trực thăng H-34 chỉ có Lead 1 và 2 theo hướng dẫn của FAC vào mục tiêu. Số 4 chiếc còn lại chờ ở điểm hẹn 1. Trường hợp gặp hỏa lực phi cơ bị rớt thì thứ tự các Rescue 1 rồi 2 vào tiếp cứu. Sau đó, trực thăng võ trang sẽ bắn rocket chung quanh bãi để H-34 xuống tiếp cứu. Trong trường hợp tình hình qúa nặng thì FAC sẽ điều động phi cơ khu trục A1-E ở điểm hẹn 2 vào tiếp. Nếu toán xâm nhập an toàn thì biệt đội trực thăng H-34 bay về Dakto ứng chiến. Trực thăng võ trang sẽ ở lại điểm hẹn 1 thêm 45 phút nữa. Sau đó, nếu mọi việc an toàn thì cũng bay về Dakto ứng chiến. Cuối cùng, khu trục A1-E sẽ giải tỏa bom đạn ở target G.
FAC luôn luôn có mặt trên vùng khoảng 30 dậm cách mục tiêu. Ngoài trường hợp khẩn cấp, toán sẽ báo cáo với FAC vào mỗi đầu giờ. 4 giờ 30 chiều thì báo cáo công điện trong ngày và vị trí dự trù đóng quân đêm. Thường thì công tác tuần tự như thế. Nhưng vì buổi sáng nay khi bay không thám, nhìn thấy bên dưới đường mòn chi chít như màng nhện. Hình ảnh không thám chụp từ mấy ngày trước bây giờ thấy xuất hiện thêm rất nhiều con đường mới. Nơi có ghi những con suối, bọn Công Binh của địch đã đổ đá và kè cây liền nhau cho xe vượt qua, dấu vết rất mới mẻ. Viên phi công FAC, người đã bay rất quen thuộc với vùng này cũng xác nhận các đường mòn này chỉ mới xuất hiện nội trong 1-2 ngày nay thôi. Ngoài ra khi bay không thám, tôi thấy các ngọn núi cao trong vùng đều có đặt tổ báo động. Tôi nghe súng trường ba tiếng một vang từ chỏm núi này sang chỏm núi khác.
Để có yếu tố bất ngờ, tôi đề nghị: ”Từ điểm hẹn 1, FAC hướng dẫn 2 trực thăng chở toán xâm nhập bay thật thấp, vào tới mục tiêu thì đáp luôn.”. Thiếu Tá Hoa Kỳ bay FAC nhìn các Sĩ Quan H-34 như hỏi ý kiến rồi ông nói: ”Từ điểm hẹn 1 vào mục tiêu khá xa, tôi đề nghị khi đi được khoảng 2/3 đường thì trực thăng mới bắt đầu hạ thấp cao độ. Như vậy cũng đủ yếu tố bất ngờ rồi. Vì bãi đáp khá lớn nên khi tôi lắc cánh ra dấu hiệu Bingo-Bingo-Bingo thì trực thăng 1 đáp xuống; khi chiếc này bốc lên thì trực thăng 2 đáp xuống.”. Đề nghị này rất khó cho phi hành đoàn vì FAC bay thật cao, hướng dẫn cho trực thăng lúc này đang bay rất thấp nên có thể sẽ không thấy được bãi đáp. FAC hướng dẫn Lead 1: Hướng 12 giờ 1000 thước, 800 thước, 600 thước, 400, 200, 100… Sau đó, FAC từ trên cao chúi xuống lắc cánh và gọi ám hiệu của máy bay ”Bingo-Bingo-Bingo”. Khi FAC lấy cao độ bay lên cũng là lúc Lead 1 đáp xuống. Khi Lead 1 bốc lên thì Lead 2 cũng vừa bay tới và đáp xuống luôn.
Như đã nói ở trên, trường hợp này bãi đáp phải lớn. Nếu bãi đáp nhỏ thì Lead 2 phải bay vòng lại để đáp cho đúng chiều, và nếu như vậy thì sẽ không còn yếu tố bí mật nữa. Nếu trong vùng bãi đáp không có các tổ báo động của địch thì chúng tôi giữ yếu tố bí mật được khoảng 80-90% rồi.
Sau đó, tôi lên bục thuyết trình, cho biết ý định hành quân của tôi mà tôi đã có ý niệm từ lúc ngồi trên chiếc O2 trên đường bay không thám về. Tốc độ di chuyển mỗi ngày, dự trù các điểm đóng quân đêm từ ngày N đến ngày N+4 trên đoạn đường từ bãi đáp đến mục tiêu. Ngày N+5 sẽ thám sát các tọa độ tại mục tiêu mà không ảnh đã cung cấp. Dự trù sẽ triệt xuất ngày N+6. Bãi đáp triệt xuất được dự trù ở tọa độ 200(th) hướng Đông-Nam, điểm đóng quân ngày N+4. Trường hợp chạm địch hoặc phải triệt xuất khẩn cấp thì bãi đáp sẽ tùy theo địa thế. Dấu hiệu cho phi cơ nhận toán là pano mầu cam trên chỏm nón. Dấu hiệu an toàn là pano mầu đỏ hình chữ T, mũi quay về hướng Bắc. Khói vàng là bãi đáp an toàn. Tôi hỏi: ”Ai có ý kiến gì nữa không?”. Tất cả đều chúc toán ”good luck”.
Bốn chiếc trực thăng võ trang vừa bay vượt qua dẫy núi hướng Tây-Bắc Dakto. Trực thăng chở toán 6 chiếc cũng bay theo. Trước đó vài phút, 4 chiếc khu trục A1-E bay đảo một vòng quanh bãi đáp trực thăng như ngầm cho biết ”Chúng tôi đã sẵn sàng chờ các bạn”, xong cũng bay khuất vào những mỏm núi cao hướng Tây-Bắc. Thời tiết chiều nay thật lý tưởng. Mặt trời đã gần sụp xuống ở chân trời nhưng hướng Tây trời vẫn còn sáng. Dự trù trực thăng bay khoảng 40 đến 45 phút, như vậy chúng tôi sẽ đến bãi đáp khoảng gần 6 giờ chiều. Xâm nhập mục tiêu trong thời gian này, xuống đất chúng tôi chỉ cần di chuyển khỏi bãi đáp chừng 300 đến 400 thước là có thể đóng quân. Địch dù đoán được có Biệt Kích xâm nhập nhưng tối rồi cũng khó mà theo dấu của chúng tôi.
Ngồi bên cửa trực thăng bỏ chân ra ngoài, tôi ngắm nhìn những cánh rừng cây cao xanh ngút ngàn điểm đầy những hố đỏ thẫm, dấu vết của những trân mưa bom B-52. Phi cơ tôi chở 6 người, gồm 2 tiền sát viên, tôi, Thượng Sĩ Meadows, 1 toán viên y tá và Trung Sĩ Charles mang máy truyền tin. Trực thăng thứ hai chở Toán Phó, Trung Sĩ James, 2 nhân viên phá hoại và 2 hậu vệ. Trời mới đó mà xụp tối rất nhanh. Gió tạt vào người tôi mát lạnh đến tê da. Trực thăng đến điểm hẹn 1, đảo vòng lấy hướng về bãi đáp và bay với cao độ thấp dần rồi giữ cao độ là đà trên ngọn cây cho đến bãi đáp. Cả đám xuống bãi đáp an toàn. Trời cũng vừa tối hẳn. Sau khi làm thủ lệnh kiểm soát tất cả đã an toàn, tiền sát viên bắt đầu di chuyển theo hướng đã định.
Đêm đó, chúng tôi đóng quân an toàn cách bãi đáp khoảng 500 thước. Tất cả toán chúng tôi tìm một địa thế cao, có cây không qúa to rồi đứng thành vòng tròn, mỗi người cách nhau một cánh tay dang ngang, đầu quay vào trong, xong đâu đó quay 180 độ ngược ra ngoài. Chúng tôi đóng quân quay thành hình tròn. Mỗi khi có báo động, chúng tôi đã có đội hình phòng thủ 360 độ. Ba-lô kê đầu, lưng lót poncho, dây đạn chỉ cởi khoen nhưng không tháo khỏi lưng, nằm ngủ súng luôn để trên bụng. Những ngày hành quân chúng tôi đều ngủ như thế.
Thay phiên nhau mỗi người gác một giờ. Đôi khi cảnh giác, chúng tôi cũng chăng giây báo động; một loại giây rất nhỏ bằng bao thuốc lá, vận hành bằng pin. Ban đêm chăng giây này cách mặt đất khoảng 3-4 tấc. Giây đứt, micro sẽ kêu lên, to nhỏ tùy theo volume đã được điều chỉnh từ trước. Tối ngủ, một người chỉ cần móc cái khoen của hộp báo động vào quai vai áo. Hệ thống báo động này rất nhạy, tuy nhiên cũng gây phiền phức không ít khi thú rừng đi vướng, hoặc cây khô ban đêm rơi xuống làm đứt giây.
Tôi tuyệt đối không bao giờ cho căng võng hoặc che lều. Trời có mưa thì trùm poncho chịu trận suốt đêm! Che lều đêm sương xuống lều sẽ phản chiếu ánh sáng, ở xa trông rất rõ. Ngủ võng đêm lúc trở mình sẽ khua động cành cây. Tôi cảnh giác cao như thế nên sau 2 năm hành quân, toán tôi chỉ bị theo dõi mấy lần nhưng chưa lần nào bị địch tấn công lúc đóng quân đêm cả. Địch thường theo dõi lúc toán mới xuống bãi đáp hoặc trong khi di chuyển, chờ lúc toán đóng quân là tấn công ngay. Buổi tối, chúng tôi không được phi cơ yểm trợ nên địch sẽ được lợi thế hơn. Nhiều toán đã bị đi đứt trong khi đóng quân đêm vì đồ đạc cởi bỏ lung tung, gây ồn ào hoặc hút thuốc lá, hay dùng C4 nấu cà phê.
Chúng tôi thường có câu: ”Đường mòn là mồ chôn Biệt Kích”. Hành quân cứ theo đường mòn mà đi hoài thì trước sau gì cũng lảnh thẹo. Hành quân mà hút thuốc lá là vô tình để cho địch theo dõi. Hút thuốc trong rừng ban ngày thôi, khói thuốc cũng bay từ 15 – 20 thước. Thuốc lá thơm thì mùi sẽ còn dễ nhận ra hơn nữa. Cả toán anh nào cũng là dân ghiền thuốc nên tôi cũng du-di, nhưng mỗi lần hút chỉ được hút phân nửa điếu đã được cắt đôi. Trong khi hút thuốc phải che điếu thuốc bằng nón vải. Nhả khói ra là lấy nón quạt khói tan ngay. Chỉ được hút 3 lần trong một ngày, mỗi lần hít vài hơi cho đỡ ghiền. Hút xong xé tan phần còn lại, bốc một nắm đất trộn đều xơ thuốc lại rồi rải xuống đất.
Không được hút thuốc có đầu lọc vì đầu lọc khó xé nhỏ, dễ để lại dấu vết. Tôi ở nhà hút mỗi ngày cũng gần một gói nhưng đi hành quân thì tôi nhịn. Chỉ tội nghiệp Trung Sĩ Charles, suốt cuộc hành quân miệng không ngớt nhai thuốc lá. Tôi cũng thuộc loại các Toán Trưởng chịu chơi, thường che chở và bật đèn xanh cho tụi nhỏ muốn làm gì thì làm, nhưng đi hành quân thì tuyệt đối phải giữ đúng tiêu lệnh chung. Tôi biết tụi nhỏ cũng than lắm, nhưng chịu khó vài ngày mà được trở về an toàn bộ không sướng hơn sao?
Ngày N+1
Phi cơ lên vùng rất sớm. Chúng tôi báo cáo trong đêm vô sự và bắt đầu di chuyển theo lộ trình. Đường đi rất khó vì B-52 oanh tạc, cây cối đổ ngổn ngang cùng hướng tiến của chúng tôi. Vì phải đi qua các hố bom đường kính trên 15-20 thước nên di chuyển rất chậm vì phải định hướng lại hoài. Buổi trưa trên con đường mòn nhỏ, trên đỉnh của một ngọn núi thấp chạy theo hướng Tây-Bắc – Đông-Nam, chúng tôi phát giác gần 25 cái chòi nhỏ, vuông, mỗi cạnh khoảng 3 thước. Sạp được lót bằng tre cách mặt đất khoảng 5 tấc. Các chòi này được bọc quanh bằng phên tre phết đất, cao khoảng 1 thước, bên trong chứa đầy lúa khoảng 8 tấc. Phần 2 tấc bên dưới chứa trấu. Ngăn đôi giữa lúa và trấu là một lớp lá rừng. Các chòi có nóc cao hơn 2 thước, lợp tranh, mái chòi chạm đất. Chòi đã thấp, lại được làm dưới tầng cây cao nên phi cơ quan sát khó thấy được. Tôi báo cáo lên FAC xin chỉ thị ở nhà và được lệnh cứ tiếp tục di chuyển. Hướng dẫn cho FAC thấy mục tiêu xong, chúng tôi sẽ di chuyển để FAC hướng dẫn khu trục đến oanh tạc bằng bom Napalm.
Tôi cho đốt một chòi để FAC thấy. Sau đó, toán chúng tôi di chuyển nhanh xuống triền núi. Lúa gặp tranh và phên tre nên bùng cháy rất nhanh. Lúa chỉ đổ tràn xuống thôi chứ không cháy được. Không biết bom Napalm có làm cháy hết số chòi lúa này không? Chung quanh không có rẫy trồng lúa. Di chuyển số lượng lúa này từ xa đến đây chắc địch phải mất rất nhiều ngày và nhân lực. Khi đến chân núi, chúng tôi thấy 2 chiếc F4-C Phantom từ trên cao bổ nhào xuống, thụt bom Napalm rồi bay vụt qua đầu chúng tôi. Tôi mong cho những đồi lúa bị cháy. Lúa đổ xuống đất chỉ cần có mưa hoặc sương đêm cũng đủ làm cho lúa nẩy mầm là không dùng được rồi. Buổi tối hôm đó chúng tôi đóng quân cạnh một con suối nhỏ. Trời vừa xụp tối đã nghe có tiếng xe di chuyển ở hướng Tây. Tiếng xe hú to chứng tỏ là xe đang phải chở nặng, hoặc cố vượt qua các dốc cao hay suối cạn. Tiếng bom B-52 nổ suốt đêm về hướng Bắc khiến mặt đất và cây cỏ rung lên từng chập sau mỗi đợt tiếng nổ. Tuy nhiên, sau đó đêm yên tĩnh…
Ngày N+2
Vừa di chuyển theo suối khoảng 200 thước, chúng tôi cặp dọc theo 2 bên con suối trong một khu rừng thấp và phát hiện một chỗ đóng quân cho khoảng từ 150 đến 200 người trở lên. Mỗi chỗ đóng quân cá nhân gồm có 2 cây thiên nhiên hoặc 2 cây trụ, đuợc chôn khoảng cách vừa tầm để buộc võng. Phía trên 2 cây có buộc một cây ngang để máng lều cá nhân. Hai cây ngang tôi đoán dùng để gác súng và một sạp nhỏ để ba-lô. Chung quanh thật sạch sẽ, không một ngọn cỏ, không một chiếc lá, chứng tỏ là được dùng đóng quân thường xuyên. Có lẽ đây là một binh trạm đóng quân của chúng giữa 2 chặng đường. Chắc chắn gần đây phải có nhà hoặc có cơ sở của binh trạm này. Tôi chụp hình và cho lệnh lục soát rất kỹ. Qủa nhiên trên một ngọn đồi thấp, cạnh con đường mòn lớn không có dấu vết xe di chuyển, chúng tôi phát giác 1 căn nhà sàn nhỏ và 4 căn nhà trệt nằm dưới cây cổ thụ cao. Chúng tôi dè dặt tiến vào. Đúng là một binh trạm rồi! Đồ đạc vất vương vãi, dép râu, điếu cày, mấy cái chén xanh và một cái tô mép mó. Dưới đất có 2 bếp nhỏ và mấy đôi đũa… chứng tỏ là địch đã bỏ đi thật gấp.
Một bàn viết làm bằng tre, ghế cũng bằng tre. Trên bàn có một lọ mực tím. Trên phên vách treo mấy cái áo trận đã rách, một tấm lưới bắt cá, lưỡi và dây câu. Chúng tôi lục soát thật kỹ và tìm thấy một tờ giấy nhỏ như giấy học trò, viết bằng mực tím. Giấy bị ướt nên chữ nhòe đi, không đọc được gì cả. Bốn căn nhà trệt có lẽ dùng để chứa lương thực vì thấy có ít gạo và bắp rơi xuống đất. Chúng tôi đốt tất cả 5 căn nhà này. Tiếng tre nứa cháy nổ ầm ầm như đụng trận. Chúng tôi di chuyển thật nhanh và tìm chỗ đóng quân đêm. Tối hôm đó vẫn còn nghe tiếng xe di chuyển mãi gần đến khuya mới dứt.
Ngày N+3
Buổi sáng hôm đó, FAC bay lên và chuyển cho chúng tôi một công điện: Cứ giữ hướng di chuyển cũ, chú ý lục soát kỹ, bung rộng trong trục tiến quân vì hướng này là một nhánh hay một xương sườn của đường mòn Hồ Chí Minh chạy vào Tam Biên. Công điện cũng cho biết thêm là trục tiến quân của địc vào Benhet chỉ chung quanh đây thôi. Tôi bàn với Thượng Sĩ Meadows, nếu lục soát rộng sẽ làm chậm sự di chuyển của toán. Meadows đề nghị chia toán ra làm đôi; lục soát rộng 2 bên bờ suối, cặp theo con đường mòn nhỏ mà chúng tôi đã gặp hôm qua. Tôi không đồng ý vì nếu chia đôi toán ra thì khó liên lạc và yểm trợ cho nhau. Trước nay, chúng tôi thường để một nửa toán nằm lại tại chỗ, còn một nửa toán kia đi lục soát để biết có điểm hẹn mà trở về. Chia đôi thì không đúng nguyên tắc, mặc dù có thể lục soát một chu vi rộng hơn.
Tôi vẫn giữ đội hình cũ và di chuyển chếch về hướng Bắc vì 2 đêm liền đều nghe thấy có tiếng xe di chuyền ở hướng này. Khoảng gần trưa, chúng tôi phát giác 2 căn nhà cất thật thấp trên một diện tích 8 x 10 thước. Nền nhà được đào sâu xuống khoảng gần một thước, đất được đắp chung quanh. Vì mái nhà cất chạm đất và lại ở dưới tàn cây cao nên đến gần chúng tôi mới phát hiện. Một thang gỗ khoảng 3 bậc dùng để lên xuống, hai bên là 2 dãy xạp tre. Đầu nhà phía bên kia cũng có thang lên xuống. Một phía đầu nhà có một chái nhỏ dùng làm bếp, có hai cái lò, một lò kẹp 2 con cá nướng còn đang nằm trên bếp. Cá đã cháy khét. Tôi thò tay vào tro thếy còn hơi âm ấm. Có lẽ tụi chúng đã bỏ đi chiều hôm qua. Căn nhà bên kia khoảng 4 x 8 thước, bên trong có một bàn viết, sạp ngủ làm bằng tre. Một quyển sổ bìa xanh loại giấy học trò ghi tên tuổi các bệnh binh. Có lẽ đây là một bệnh xá thuộc binh trạm mà chúng tôi đã phát hiện ngày hôm qua. Sổ ghi bệnh nhân phần nhiều là phù thủng, sốt rét và kiết lỵ. Tôi đếm và cộng lại sổ ghi mỗi tháng thấy có từ 17 đến 25 tên có mặt ở trạm xá này. Tổng số chết cũng gần chục tên. Bệnh xá có ghi tên một bác sĩ và hai hộ lý, đều là tên đàn ông. Như vậy, hộ lý và y tá cũng còn có tên riêng là nữ cán bộ, dùng để phục vụ sinh lý cho các cán bộ cao cấp địch. Chúng mày bỏ của chạy lấy người thì chúng ông đốt nhà chúng mày vậy. Chiều nay lại được dịp nghe tre nứa cháy nổ ầm ầm như pháo Tết! Đêm hôm đó nghe tiếng xe di chuyển gần chúng tôi hơn…
Ngày N+4
Buổi sáng sau khi báo cáo với FAC trong đêm an toàn, chúng tôi bàn với nhau: Qua phát hiện trong 2 ngày nay, chắc chắn tuyến đường xâm nhập vào vùng Tam Biên phải ở gần đây. Tuyến đường này gần như nằm song song với trục tiến quân của chúng tôi. Có thể là hướng Bắc của con suối hay nằm ở phía Nam con suối. Tôi quyết định đổi hướng và toán di chuyển về hướng Bắc, không tiến vào mục tiêu như đã dự trù. Tôi liên lạc với FAC cho biết ý định mới của toán và chiếu gương xin FAC xác nhận vị trí điểm đứng của toán. FAC cho tọa độ hiện tại của toán, so với tọa độ chúng tôi xác định thì chỉ cách nhau không qúa 100 thước. Chúng tôi tiến về hướng bắc di chuyển khoãng 200 thước; toán phát giác một đường mòn nhỏ bề ngang khoãng hơn một thước láng, sạch, không có một cọng cỏ. Theo kinh nghiệm thì đường mòn như thế này phải được sử dụng hàng ngày rồi. Tôi bước dọc theo lề đường khoảng 10 thước, nhìn về phía Tây khoảng 100 thước thì bị che khuất. Có lẽ đó là khúc quanh mà con đường chạy theo đoạn cong của dòng suối.
Quan sát về phía Đông của đường mòn thấy xa hơn khoảng 200 thước thì con đường đi xuống thấp dần, vì đường mòn chạy theo triền đồi thoai thoải xuống. Vừa định lấy máy hình ra chụp, tôi bỗng nghe có tiếng ồn ào về hướng Tây. Vội thụt lui vào phía trong thì đã thấy một đoàn người vừa xuất hiện ở khúc quanh con đường. Dẫn đầu là một tên quần xanh, áo trận vàng, đầu đội nón cối, tay cầm một cây gậy dài, vai quàng một miếng vải dù bông, vừa chạy vừa hô: ”Khẩn trương – Khẩn trương – Khẩn trương”. Phía sau là một đoàn người gần như chạy lúp xúp mặc đồ trận xanh, nón cối, giầy vải, khiêng những khúc dài được bọc bằng giấy mầu ô-liu, không biế là sơn pháo hay phòng không. Có tên gánh, có khi cả 2 tên khiêng một thùng gỗ hoặc thùng sắt. Tôi đứng như trời trồng vì chỉ cách chúng không đầy 5 thước! Bờ suối thì cũng cách tôi khoảng chừng 5 thước.
Tôi nhích dần, nhích dần xuống suối. Nếu trời xui khiến chỉ cần có tên nào dừng lại là thấy tôi ngay. Tôi nhìn Thượng Sĩ Meadows và 2 tiền sát viên Lý A Dưỡng và Wòng A Cầu đang nằm bẹp bên bờ suối, nước tới thắt lưng, mặt người nào cũng nghệt cả ra. Cuối cùng, tôi cũng thụt lui tới mép suối. Tôi vừa ngồi thụt xuống bờ suối thì đoàn quân của địch cũng vừa vượt qua. Tôi nhích dần về phía Thượng Sĩ Meadows, đưa ngón tay ra dấu hiệu đúng là mục tiêu rồi. Tôi hỏi nhỏ: ”Mày đoán xem đoàn quân vừa đi qua độ chừng bao nhiêu?”. Nó đoán khoảng hơn 150 người. Tụi thằng Dưỡng, thằng Cầu nói khoảng 300. Tôi đoán trên dưới cũng khoảng 200 thôi. Tôi ra dấu cho Thượng Sĩ Meadows trở về phía bên kia suối bảo Trung Sĩ Charles liên lạc với FAC báo cáo hiện tình. Để thằng Dưỡng ở lại với tôi, tôi bảo thằng Cầu cho toán nhích sâu vào trong thêm 15 thước trên một ngọn đồi nhỏ. Chờ khoảng không hơn 20 phút sau cũng không thấy toán quân địch nào di chuyển qua. Thượng Sĩ Meadows lội sang, tay cầm máy quay phim. Cùng lúc này, tôi nghe tiếng phản lực cơ gầm thét cùng với tiếng ầm ầm ở hướng Đông mà đoàn quân xâm nhập của địch vừa đi tới. Thượng Sĩ Meadows nói nhỏ vào tai tôi: ”Tôi đã liên lạc với thằng FAC, nó điều động các phản lực cơ đang có mặt ở trong vùng ưu tiên đánh cho bọn mình. FAC cũng cho biết đã xin các phi xuất từ Đà Nẵng đang trên đường đi yểm trợ theo lời yêu cầu và hướng dẫn của toán.”. Nó còn cho biết thêm là đã cẩn thận trải panô bên kia bờ suối khoảng 10 thước và FAC đã thấy tọa độ của mình rồi. Tôi cũng khoái. Như vậy là chắc ăn như bắp. FAC cũng khôn, nó chỉ bay ở xa xa chứ không ở trên đầu chúng tôi.
Ở bờ suối bên này chỉ có tôi, Meadows và thằng Dưỡng. Thằng Meadows gần như nằm hẳn xuống suối, từ thắt lưng trở xuống ngâm hẳn dưới nước suối. Nó để máy quay phim ghếch ống kính lên chờ quay. Tôi đứng rùn người, hơi nghiêng bên cạnh thân cây gỗ mục chờ chụp hình. Khoảng 15 phút sau, ở khúc quanh hướng Tây xuất hiện một toán khoảng chừng 15 tên, vượt qua chỗ chúng tôi đang núp với những bước chân sải thật dài. Cũng quân phục xanh, nón cối, giầy vải và dép râu lẫn lộn, lưng mang balô có vắt nhánh cây. Tên nào cũng chống một cây gậy nhưng không thấy mang vũ khí hay khiêng vác vật gì cả, khác với toán vừa vượt qua. Toán này tất cả đều sồn sồn khoảng 40-50 tuổi.
Mặc dù tiếng suối chẩy rì rào nhưng tiếng máy chụp hình của tôi cũng nghe rõ mồn một. Tôi quay sang Meadows, mặt nó đỏ ngừ, đang loay hoay với cái máy quay phim bị trở ngại sao đó. Nó nhích dần về phía tôi nói nhỏ: ”Tôi đem máy trở qua bên kia cho thằng Charles coi lại, không hiểu tại sao máy lại tự nhiên không ”run” ?”. Tôi ra dấu cho nó ngầm bảo được rồi và đưa máy chụp hình ra nói nhỏ: ”Đừng lo, còn có cái này.”. Khoảng 10 phút trôi qua, chúng tôi lại thấy một toán nữa xuất hiện. Quân phục cũng giống như toán vừa vượt qua lúc đầu. Cũng khá đông, gần 100 tên. Không biết thuộc đoàn vừa qua rớt lại phía sau, hay chúng chia ra từng nhóm nhỏ để tránh phi cơ quan sát thấy. Đặc biệt nhóm này không có tên dẫn đường. Toán này vượt qua được gần 20 phút rồi mà vẫn không thấy thằng Meadows quay trở qua. Tôi ra dấu cho thằng Dưỡng trở về bờ suối bên kia. Thằng Meadows đang nhăn nhó lắc đầu cho biết máy quay phim của nó không sử dụng được. Tôi nói: ”Tao chụp được nhiều hình lắm rồi”. Trong lúc đó phản lực cơ đang thả bom ầm ầm ở hướng Đông. Tiếng bom nổ như sát bên cạnh chúng tôi. Lúc này đã hơn 12 giờ trưa, mấy thằng nhỏ của tôi chắc cũng có gì bỏ bụng rồi. Tôi ra dấu cho thằng Meadows kiếm gì ăn đi. Nó lắc đầu và đưa bi-đông nước lên làm dấu. Tôi thấy thằng này đi hành quân ăn rất ít, thường thường chỉ một hộp trái cây nhỏ cho cả ngày.
Tôi liếc một vòng thấy mấy thằng nhỏ đang ẩn nấp thật kỹ sau những thân cây to. Tôi, thằng Meadows và Charles bắt đầu hướng dẫn cho FAC đánh chính xác hơn. Giờ phút này, ở con đường mòn phía bên kia bờ suối lại thấy xuất hiện một toán quân khác. Đoàn này trang phục cũng quần áo trận xanh, lưng đeo ba-lô vắt lá ngụy trang. Đặc biệt tất cả đều mang vũ khí cá nhân, phần nhiều là AK-47, không thấy có súng lớn như đoàn đầu tiên. Chúng gần như dồn cục vào nhau, vừa đi vừa chạy. Nhờ tấm pa-nô trải làm dấu phía sau chúng tôi nên FAC thấy vị trí toán rất rõ. Do đó, lần này khu trục đánh bom con đường mòn trước mặt chúng tôi không qúa 50 thước. Nghe tiếng khu trục gầm thét, bọn chúng ngừng lại và đứng tạt ra hai bên đường. Một tràng đại liên từ khu trục bắn cày dài theo mặt đường tới bờ suối bên kia. Bị khu trục bắn thẳng vào đoàn quân nên chúng chạy náo loạn và kêu la ầm ĩ. Vì rừng già nên bên dưới rất trống trải nên thấy có rất nhiều xác chết nằm rải rác trên đường. Một số tạt về phía bờ suối hướng toán chúng tôi đang đứng phục kích. Lần này, khu trục bắn nhiều tràng đại liên dọc theo bờ suối. Lại nhiều tên nằm bên bờ suối bị ngã gục.
Về hướng Bắc cây cối thưa hơn nên chúng tôi quan sát thấy có thêm một toán địch mới xuất hiện. Chúng bị dồn cục lại và nằm phục 2 bên con đường. Thằng Meadows vội giành lấy ống liên hợp trong tay thằng Charles, hướng dẫn FAC đánh mục tiêu hướng Tây Bắc và hướng Bắc. Có lẽ chúng thấy khu trục chỉ bắn con đường mòn và phía bờ suối nên đổ dồn về phía này.
__________________
LOÀI KHỈ TRỞ THÀNH LOÀI NGƯỜI MẤT TRIỆU NĂM
LOÀI NGƯỜI MUỐN TRỞ THÀNH LOÀI KHỈ TRƯỜNG SƠN HÃY GIA NHẬP ĐẢNG CS VN
HÃy CÓ Ý THỨC HỆ TỰ HỎI " TÔI ĐÃ LÀM GÌ CHO TỔ QUỐC , ĐỪNG HỎI TỔ QUỐC ĐÃ LÀM GÌ CHO TÔI
Hết khu trục A1-E rồi phản lực F4-C thay phiên nhau quần thảo phía Bắc con suối, cách chỗ chúng tôi khoảng 50-60 thước. Tiếng bom, tiếng đạn và tiếng la vang từng chập. Tiếng bom đạn vừa ngừng là bọn chúng lại chạy về hướng Đông của đường mòn. Chưa bao giờ tôi thấy khu trục yểm trợ ngoạn mục như vậy. Nhiều tràng đại liên cài dọc theo con suối chỉ cách chúng tôi không qúa 50 thước. Tôi nghĩ chỉ cần một viên đạn ”bụi đời” bỏ đi bậy bạ là toán chúng tôi có người bỏ mạng rồi. Phi cơ đánh từ Đông sang Tây phía trước mặt chúng tôi. Hướng Bắc không nhìn thấy địch nhưng về hướng Tây trên một ngọn đồi thấp có nhiều tảng đá to, tôi thấy địch đang tập trung và ẩn nấp quanh mấy hòn đá lớn lố nhố.
Tôi ra dấu cho Thượs Sĩ Meadows lại gần chỉ cho nó thấy và nói: ”Mày gọi FAC và xin 2 phi xuất Napalm đi”. Nó nói OK và bò lần về phía thằng Charles. Trong lúc đó ở hướng Đông Bắc bỗng có đại liên phòng không 37 ly nổ ”chụp chụp”. Từng cụm khói trắng bung lên mỗi lần phi cơ đảo xuống. Không biết FAC có điều động không nhưng tôi thấy có một khu trục tách ra, lao về hướng có phòng không vừa bắn lên. Sau mấy loạt đạn và 2 tiếng bom nổ, súng phòng không này im luôn. Không biết bị tiêu diệt hay tụi nó sợ không bắn nữa.
Thượng Sĩ Meadows bò lại cho biết sẽ có trực thăng võ trang bay lên yểm trợ. Tôi nói ”Good!”. Vừa nói xong thì tiếng lạch bạch của 4 trực thăng võ trang Cobra cũng vừa lao tới. Hai chiếc bay vòng bên ngoài, hai chiếc kia lao vào phụt rocket và đại liên. Hỏa lực trực thăng cũng mạnh lắm nhưng tụi địch không ngán trực thăng, vì chúng tôi nghe thấy nhiều tràng AK bắn lên phi cơ. FAC có lẽ được trực thăng báo cho biết có hỏa lực bên dưới bắn lên nên nó bay vào vùng mục tiêu và đảo trên đầu chúng tôi. Mấy tên sống sót từ trưa đến giờ nhờ núp bên mấy khe đá, thấy ngọn đồi bên phía chúng tôi đang đứng không bị oanh kích cho nên tôi nghe tiếng la: ”Tất cả tiến sang bên phải”. Hai, ba tên lụp xụp bám thành suối leo lên chạy về hướng ngọn đồi chúng tôi đang bố trí. Hai thằng chạy đầu vừa lên khỏi bờ suối bên này thì ”rẹt rẹt”, thằng Dưỡng nhả 2 loạt súng giảm thanh. Hai tên này gục xuống. Thằng thứ ba vội tụt xuống, lui lại nấp vào hòn đá to giữa suối. Thằng Dưỡng khạc thêm mấy loạt đạn nữa nhưng đạn chỉ chạm vào đá rồi rớt xuống suối nghe bụp bụp. Bỗng tên này la to ”Có Biệt Kích gián điệp, Biệt Kích gián điệp!”. Thằng Sáng lanh lẹ thẩy một trái mini sau lưng tên này. Tiếng nổ của lựu đạn mini hất tung nó lên, phơi nửa người nằm trên phiến đá.
Sau tiếng lựu đạn, tôi nghe có nhiều tiếng la ở hướng Tây ”Có Biệt Kích gián điệp, Biệt Kích gián điệp!”. Tôi ra dấu cho cả toán chuẩn bị. Chúng tôi đã bị địch phát giác rồi. Có thêm mấy bóng theo các thân cây khum khum tiến về phía chúng tôi, bắn mấy loạt đạn AK dò dẫm. Tôi ra hiệu cho Thượng Sĩ Sơn dẫn bán tổ rút trước về hướng Nam. Bán tổ còn lại cũng rút chầm chậm theo. Giờ này ở bờ suối bên này đã có khoảng mười mấy tên bò lên đồi rồi. Thằng Meadows từ sáng tới giờ chắc cũng ngứa tay nên chồm lên nhả nguyên một loạt đạn. Tiếng AK bắn ào ào xả vào chúng tôi lúc chúng tôi vừa yểm trợ cho nhau vừa rút.
Bốn chiếc trực thăng đảo qua đảo lại, bắn đại liên ngăn chặn phía sau chúng tôi. Vỏ đại liên và sắt két đạn rơi lên đầu lên cổ chúng tôi nóng bỏng. Có lẽ tụi trực thăng thấy chóp mũ chúng tôi có dấu hiệu mầu cam nên tụi nó bắn thật chính xác, không sợ lầm vào quân bạn. Mặc dù trực thăng yểm trợ rất mạnh, thế mà tụi nó cũng đuổi theo chúng tôi hơn 500 thước. Lúc này cũng gần 6 giờ chiều. Bây giờ chúng tôi mới bắt đầu thấy đói và khát. Tôi ra dấu cho toán ngừng lại để bố trí ăn cơm. Từ sáng đến giờ, vì qúa mệt và căng thẳng nên tôi chỉ nuốt trôi nửa lon Fruit-Cocktail.
Trong công điện buổi trưa chúng tôi nhận được thì Chiến Đoàn cho lệnh ngày mai chúng tôi phải tìm bãi đáp triệt xuất gấp. Tôi đoán B-52 sẽ ”tapi” vùng này khi chúng tôi triệt xuất ra xong. Sau khi dùng cơm chiều, chúng tôi chờ trời tối hẳn mới di chuyển khỏi nơi này khoảng 200 thước tìm chỗ đóng quân. Khoảng 9 giờ tối, chúng tôi nghe từng tràng tiếng nổ ầm ầm. Mỗi lần sau tiếng nổ là ánh sáng lóe lên, sáng như ban ngày. Thằng Meadows cho biết máy bay C-47 đang ”chụp hình” tụi nó bằng bom! Lần đầu tiên tôi mới nghe như thế. Cuộc chiến này có nhiều điều thật mới lạ. Vì sợ tụi VC theo dõi đột kích trong đêm nên tôi cứ chập chờn không dám ngủ.
Ngày N+5
Buổi sáng báo cáo với FAC xong, chúng tôi cho biết là bãi đáp triệt xuất chưa có. FAC hướng dẫn chúng tôi về phía Tây Nam khoảng 300 thước thấy có một bãi đáp nhỏ, có thể dùng để triệt xuất được. Trong lúc chuẩn bị di chuyển, tôi nhìn về phía Đông Nam khoảng 300 thước thấy hình như có một làn khói nhỏ lơ lửng bay lên. Tôi chỉ cho thằng Meadows, nó nói có lẽ là sương. Buổi sáng nắng lên làm tan phần sương trên ngọn cây nên nhìn thấy có ánh sáng mầu vàng lợt. Nhưng nếu nhìn từ mặt đất trở lên 2-3 thước thì thấy sương mù còn lãng đãng. Quan sát một hồi, thằng Meadows nói có lẽ là khói. Tôi cũng còn chưa quyết định hẳn đây là sương hay khói. Nếu là khói thì có lẽ vì các đám cháy do bom đánh ngày hôm qua tạo ra. Nhưng sau khi quan sát kỹ, tôi thấy làn khói bay lên thẳng như tạo ra bởi một đống lửa nhỏ, giống như khói bếp vậy. Hướng này là hướng con đường mòn chạy bọc theo suối, trải dài về hướng Đông mà các phi tuần phản lực đánh chặn địch ngày hôm qua. Thay vì di chuyển về hướng Tây Nam theo phi cơ quan sát chỉ để tìm bãi đáp, tôi cho toán di chuyển về hướng Đông Nam, tiện việc lấy nước ở suối và quan sát xem đó có phải là khói không?
Chúng tôi thấy cạnh con suối có một căn chòi nhỏ. Kích thước chòi này cũng giống như những căn chòi mà chúng tôi phát hiện có lúa mấy ngày trước. Chòi không có lúa, chỉ còn lại toàn trấu. Vì được cất gần suối nên sàn nhà cao hơn một thước. Chúng tôi tản ra và chuẩn bị ăn sáng. Từ hôm đi đến nay mới nghe thằng Charles mở miệng: ”Nếu được phép ngủ, tôi sẽ nằm dưới chòi này ngủ 3 ngày liền”. Trong toán, nó là thằng phải mang nặng nhất. Ngoài những trang bị như mọi người, nó còn cõng thêm một máy truyền tin PRC-25, một máy ngụy tần số gắn liền với PRC-25 cộng thêm một cục pin trừ bị. Nghe nó nói muốn ngủ, mắt tôi cũng muốn sụp xuống! Tôi tháo ba-lô ra, tròng giây súng vào cổ, bước lên một thân cây to đổ vắt ngang qua suối để ra giữa suối khoát nước rửa mặt. Vừa ngồi xuống, chưa kịp đưa tay khoát nước, nhìn về phía trái khoảng 15-20 thước tôi chợt thấy có móc 3-4 chiếc võng. Có chiếc còn căng poncho làm lều. Tôi đưa tay ra dấu có địch, nhưng ngoái lại chẳng thấy có đứa nào nhìn thấy thủ hiệu của tôi cả. Ai nấy đang chuẩn bị ăn sáng! Tôi vừa thụt lui nhưng mắt vẫn quan sát mấy cái võng, tay vẫn đưa ra sau làm dấu có địch. Chân tôi vừa đặt suống đất thì Thượng Sĩ Sơn cũng vừa ngó thấy thủ hiệu có địch của tôi. Nó chồm tới phát vào vai thằng Dưỡng và thằng Meadows ngồi gần đó, ra dấu có địch. Bây giờ thì cả toán đã được báo động. Tôi cho toán biết là quan sát thấy có 3-4 cái lều võng nhưng không thấy có người. Tôi cho lịnh rất nhanh: Tôi, thằng Dưỡng và thằng Meadows bò qua trước. Thượng Sĩ Sơn, thằng Cầu, thằng Sáng yểm trợ. Phần còn lại bố trí bên này.
Buổi sáng nước lạnh như nước đá, cũng may nước chỉ cao hơn đầu gối một chút thôi. Chúng tôi bò lên khỏi bờ suối khoảng ba thước thì thấy một tên từ võng ngồi dậy. Thằng Dưỡng hốp tốp kêu: ”Đứng dậy – Dơ tay lên!”. Tên này đang lúng túng, có lẽ còn vướng một chân trên võng nên chưa bò xuống được. Tôi và thằng Meadows vọt nhanh tới. Thằng Meadows nắm vai tên này lật té xuống đất. Hai tên khác vụt bỏ chạy. Hai tên này đang ngồi khuất dưới đất nên chúng tôi không thấy. Thật nhanh, thằng Dưỡng đưa nguyên một băng giảm thanh. Một thằng ngã, còn thằng kia chúng tôi thấy nó phóng xuống đất, nhưng khi chạy đến tìm thì không thấy có máu và người đâu cả. Tên kia bị bắn trúng, lãnh cả gần chục viên ở bụng. Tôi quay trở lại chỗ thằng Meadows thì thấy nó đã còng tay tên vừa bắt được bằng còng nylon, miệng dán băng keo xanh.
Bỗng tôi nghe tiếng Thượng Sĩ Sơn hô: ”Đứng lên! Đưa 2 tay lên khỏi đầu”. Thì ra cách chúng tôi khoảng 5-6 thước có một tên khác đang đi cầu. Thấy lộn xộn nó ngồi im tại chỗ, nhưng không ngờ bị Thượng Sĩ Sơn phát giác. Tên này đứng lên, 2 tay đưa lên đầu nên không kéo quần lên được, để ”Bác Hồ” lòng thòng coi tức cười qúa. Thượng Sĩ Sơn bước đến, chĩa súng sau lưng nó nói: ”Cài quần lại!”. Tên này lúng túng kéo quần lên, miệng hỏi: ”Các đồng chí ở đơn vị nào?”. Thằng Cầu nạt: ”Im mồm mày!”. Nó được dẫn lại gần chỗ tôi và thằng Meadows đang đứng. Thấy thằng Meadows to lớn như con gấu, râu ria 5-6 ngày chưa cạo thì nó biết ngay chúng tôi là ai rồi nên không hỏi nữa. Thằng Meadows kéo tay nó xuống, quặt ra sau lưng tròng dây còng vào. Nó dẫy dụa nói: ”Các anh phải đối xử tử tế với tù binh”. Thằng Cầu đá vào đít nó rồi nói: ”Con c… ông nè chứ tử tế. Tụi mày bắt được tụi tao có tử tế không?”. Thằng Meadows trong tay đã cầm sẵn miếng băng keo chụp dán miệng tên đó câm luôn.
Tôi ra dấu rút. Trong lúc Thượng Sĩ Sơn và tụi thằng Dưỡng, thằng Cầu hối hả tháo võng và lều bỏ vào ba-lô tụi nó, nhìn thấy cây AK dựng ở góc cây, tôi chỉ thằng Sáng cho nó cầm luôn. Chúng tôi trở qua chòi họp toán lại rồi bắt đầu rút. Thằng Meadows nói nhỏ với tôi: ”Sir, chờ tôi báo cáo với FAC biết mình đã bắt được 2 tù binh rồi hãy di chuyển”. Trông gương mặt nó vui như được kẹo. Tôi lẩm bẩm trong bụng “Tiên sư anh. Có chiến lợi phẩm anh gọi tôi bằng Sir ngọt sớt.”. Tôi nói OK và tính rất nhanh trong đầu. Nếu di chuyển đến bãi đáp do FAC chỉ lúc ban sáng thì qúa xa. Vướng 2 tên tù binh không di chuyển nhanh được, lỡ chạm địch lại càng thêm rắc rối. Nếu mấy tên này thuộc toán tiền tiêu của đơn vị địch thì tên chạy thoát vừa rồi về sẽ báo cáo, và lúc đó địch sẽ truy kích chúng tôi ngay.
Thằng Meadows đưa ngón tay cái lên làm dấu là đã báo cáo cho FAC xong. Tôi cho nó biết mình phải phá cây làm bãi đáp cho trực thăng xuống. Nó không suy nghĩ nói OK ngay. Tôi quan sát thấy hướng Đông Nam có đám rừng thưa, toàn là cây chồi, không to lắm. Tôi cho lịnh toán tiến về hướng đó. Đi được khoảng 200 thước thì thấy dưới triền đồi hơi thoai thoải, rừng thưa, cây to chỉ bằng bắp vế. Đảo mắt nhanh một vòng, ước lượng chu vi rộng đủ cho một trực thăng đáp xuống được mà cánh quạt phải không chém vào cây, tôi quyết định chọn nơi này làm bãi đáp. Vì là triền đồi nên nước chẩy xuống tạo thành một khe khá sâu như một con suối cạn. Tôi bảo đẩy 2 thằng tù binh xuống dưới đó. Định tọa độ xong, đưa cho thằng Charles gửi lên cho FAC. Một mặt, tôi cho lấy giây chuyền nổ quấn chung quanh các thân cây, định bụng sẽ cho nổ mấy cây này trước vài phút để lấy chỗ cho trực thăng đáp xuống. Nuôi quân 3 năm, xài trong 15 phút. Với tay nghề của thằng James và 2 toán viên của tôi, việc dọn bãi trực thăng bằng chất nổ là 1 trong 15 bài dễ nhất của khóa “”Mìn bẫy & Phá hoại”. FAC cho biết trực thăng đã cất cánh. Nhìn đồng hồ, tôi tính phải 40 phút nữa trực thăng mới tới.
Đi một vòng thấy mấy thằng nhỏ bố trí và cảnh giác cao nên tôi ngoắc thằng Meadows lại chỗ con mương, nơi Thượng Sĩ Sơn đang giữ 2 tù binh. Tôi ra hiệu cho Thượng Sĩ Sơn lên, tôi và thằng Meadows nhẩy xuống. Tôi phải khai thác tụi này vài câu mới được. Nhỡ khi bị địch truy kích, chắc chắn là phải thanh toán 2 tên này. Biết được vài tin tức, ít ra cũng được một vài tin để báo cáo. Trong 2 tên thì tên lớn tuổi bị bắt lúc đi cầu đang dãy dụa như muốn tháo dây còng, miệng cứ ú ớ hoài. Thượng Sĩ Sơn nói: ”Nó đi cầu chưa chùi nên thúi hoắc à”. Meadows ngó tôi hỏi Sơn nói gì? Tôi nói “Nó bảo kỳ này về mày sẽ được lên lon”. Thằng Meadows cười, biết là tôi nói đùa với nó.
Tôi gỡ băng keo khỏi miệng 2 tên tù binh rồi nói: ”Các anh hãy ngoan ngoãn, đừng có chống cự gì cả. Bắt buộc vì an toàn, chúng tôi mới phải còng các anh lại thôi”. Tôi nhìn tên lớn tuổi nói tiếp: ”Loại còng này anh tuột không thoát được đâu. Càng dãy dụa, răng cưa càng xiết chặt. Bây giờ tôi muốn mở ra cũng không được, vì răng cưa vào thì xuôi, còn tháo ra thì ngược. Đợi về đến nhà có kềm tôi sẽ cắt ra”. Tôi chỉ vào tên nhỏ tuổi nói: “Ngoan ngoãn như thế này có phải tốt không?”. Tôi hỏi bọn nó có muốn uống nước không? Chỉ có tên nhỏ gật đầu. Tôi lấy bi-đông cầm cho nó uống. Hỏi có muốn hút thuốc không? Tên nhỏ gật đầu. Tôi ra dấu xin Thương Sĩ Sơn điếu thuốc. Thượng Sĩ Sơn đưa cho tôi một nửa điếu thuốc Pall-Mall. Tôi mồi lửa rồi cầm cho tên tù binh nhỏ tuổi hút. Tôi hỏi nó: ”Thuốc lá của Đế Quốc Mỹ đó, có ngon không?”. Nó gật đầu.
Tôi bắt đầu hỏi tên tuổi và đơn vị tên nhỏ trước. Nó cho biết tên là Nguyễn Tiến Hùng, 19 tuổi, quê ở Phú Thọ, thuộc đoàn Khánh Hòa 13. Từ ngày khởi hành xâm nhập vào Nam, tính đến ngày hôm nay bị bắt đúng 2 tháng. Nó cũng cho biết ngày hôm qua, đoàn của nó bị phi cơ oanh kích, thiệt hại rất nặng. Nó vàmột nhóm chạy toán loạn nên đã thất lạc đơn vị. Nó cũng nói thêm là đoàn của chúng nó bị thiệt hại nặng vì có Biệt Kích gián điệp chỉ điểm. Nó cho biết đoàn của nó là đơn vị vào Nam để bổ sung thôi. Lúc ra đi quân số là 300. Gần 100 tên rơi rớt lại tại các binh trạm, bị phù thủng, sốt rét, kiết lỵ và ”B quay”. B quay là đào ngũ, bỏ trốn về lại miền Bắc. Tôi mở ba-lô của nó ra xem thì thấy ngoài tấm bạt nylon còn có võng, một bộ đồ xanh ô-liu, một chăn mỏng mầu vàng, một mặt nạ phòng hơi độc, hai thỏi lương khô, một chén nhôm xanh, tất cả đều có dấu sản xuất tại Trung Cộng. Đặc biệt trong ba-lô có một tờ giấy thuộc loại nylon, không thấm nước, không bị mục và không bị mối ăn. Đấy là một loại truyền đơn mà chúng tôi thường bắt gặp, rải rất nhiều trong rừng. Trong đó có một bài thơ lục-bát, nội dung nói đại ý là người con vào Nam ngồi nhớ mẹ nơi đất Bắc, không biết số phận của mình và của mẹ già ra sao? Bài thơ được in chồng lên hình người lính Bắc Việt đang ngồi ôm súng gục đầu. Có lẽ truyền đơn này của một cơ quan tuyên truyền Hoa Kỳ, vì bài thơ có nhiều chữ không bỏ dấu. Nếu thuộc Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị thì chắc chắn không có khuyết điểm này.
Tên lớn tuổi quê ở Thái Bình, 24 tuổi, tên Lê Văn Thành. Tôi hỏi: ”Các anh nói thất lạc đơn vị sao không đi tìm mà còn đóng quân ở đây?”. Nó nói phải chờ xem có còn bị phi cơ oanh kích nữa không, rồi mới tìm đường trở về binh trạm hôm trước chờ giải quyết, vì nếu không có giao liên thì không biết đường tới binh trạm sắp đến. Tôi xếp sổ tay lại, thấy hỏi như vậy cũng đủ rồi. Tôi không có đủ thời giờ, vả lại nên dành cho Ban Thẩm Vấn Tù Binh vì họ có kỹ thuật và kinh nghiệm nhiều hơn. Nhìn đồng hồ thấy còn gần 5 phút nữa trực thăng mới tới, tôi hỏi vớt tên Hùng thêm một câu: ”Ngoài Bắc anh có thấy cố vấn Nga không?”. Nó lắc đầu và cho biết: “Nghe nói các cố vấn người Nga chỉ ở các đội tên lửa mà thôi”. Tôi quay sang thằng Meadows nói tóm tắt cho nó biết. Thôi đủ rồi. Quăng ba-lô của 2 thằng tù binh lên trước, tôi và thằng Meadows leo lên sau rồi đưa tay kéo 2 đứa chúng nó ra khỏi rãnh nước.
Tiếng trực thăng H-34 nghe phành phạch từ xa. FAC đảo thật thấp trên đầu chúng tôi. Trực thăng võ trang cũng vừa tới, tuôn đại liên và rocket chung quanh bãi đáp. Thằng James và tụi thằng Cầu, thằng Sáng nhào ra tới các thân cây đã quấn giây chuyền nổ sẵn để giựt kíp nổ. “Ầm – Ầm – Ầm”. Năm sáu cây ào ào ngã xuống. Theo tiêu lệnh, 2 tù binh và bán tổ của toán lên trực thăng đầu tiên. Nhóm của tôi và thằng Meadows luôn luôn xuống trực thăng trước và lên trực thăng sau cùng. Thằng Nghĩa đáp xuống, thò đầu ra cửa sổ đưa tay vẫy tôi và đưa một ngón tay cái lên. Tôi cười và vẫy tay ra dấu đáp lại. Cây cối ngã ngổn ngang nhưng nó đáp xuống cũng đẹp lắm. Bánh xe trực thăng đặt gần chạm đất, do đó tụi tôi đỡ 2 tù binh bị trói tay bước lên bậc thang trực thăng cũng dễ. Trực thăng của thằng Nghĩa vừa kéo lên khỏi ngọn cây thì chiếc kia của thằng Hiếu cũng đáp xuống liền trong tích tắc.
Ngồi trên trực thăng bay về Dakto tôi nghĩ thầm: ”Khi giải trình hành quân, tôi sẽ cho biết địch bị phi cơ oanh kích chết hai, ba trăm tên. Không biết mọi người có tin không?”. Ôi mà cần gì? Hai tên tù binh này sẽ trả lời thay tôi. Tôi liên tưởng tới Đoàn Khánh Hòa 13 gần như bị tiêu diệt hết. Con số 13 đúng là xúi quẩy. Mặc dù tiếng cánh quạt trực thăng và tiếng gió thổi ào ào nhưng thằng Meadows ngồi ở cuối trực thăng cũng cố gào to:
-o- Tối nay 7 giờ, tôi chờ Sir ở Câu Lạc Bộ nghe?
-o- Tôi đáp: “OK”.
Lê Minh
__________________
LOÀI KHỈ TRỞ THÀNH LOÀI NGƯỜI MẤT TRIỆU NĂM
LOÀI NGƯỜI MUỐN TRỞ THÀNH LOÀI KHỈ TRƯỜNG SƠN HÃY GIA NHẬP ĐẢNG CS VN
HÃy CÓ Ý THỨC HỆ TỰ HỎI " TÔI ĐÃ LÀM GÌ CHO TỔ QUỐC , ĐỪNG HỎI TỔ QUỐC ĐÃ LÀM GÌ CHO TÔI
The Following 2 Users Say Thank You to hoanglan22 For This Useful Post:
Diễn Đàn Người Việt Hải Ngoại. Tự do ngôn luận, an toàn và uy tín. Vì một tương lai tươi đẹp cho các thế hệ Việt Nam hãy ghé thăm chúng tôi, hãy tâm sự với chúng tôi mỗi ngày, mỗi giờ và mỗi giây phút có thể. VietBF.Com Xin cám ơn các bạn, chúc tất cả các bạn vui vẻ và gặp nhiều may mắn.
Welcome to Vietnamese American Community, Vietnamese European, Canadian, Australian Forum, Vietnamese Overseas Forum. Freedom of speech, safety and prestige. For a beautiful future for Vietnamese generations, please visit us, talk to us every day, every hour and every moment possible. VietBF.Com Thank you all and good luck.