Một ngày, Chu Đệ triệu đại thần Giải Tấn vào bàn việc lập thái tử. Giải Tấn vốn ủng hộ Chu Cao Sí nên nói: “Hoàng trưởng tử nhân hiếu, lòng người quy phục”. Nhưng Chu Đệ không biểu lộ thái độ. Thấy vậy, Giải Tấn tung “đòn quyết định”, nhẹ nhàng nói ba chữ: “Hảo Thánh Tôn”.
Những ai có hiểu biết về lịch sử nhà Minh hẳn đều biết rằng, trong thời gian đầu trị vì, Chu Đệ luôn băn khoăn không biết nên lập trưởng tử Chu Cao Sí hay thứ tử Chu Cao Hú làm thái tử. Theo tổ chế, việc kế vị của nhà Minh tuân theo nguyên tắc “trưởng tử kế thừa”, vì vậy Chu Cao Sí mới là người thừa kế hợp pháp, đáng lẽ phải được lập làm thái tử.
Tuy nhiên, trải nghiệm cá nhân của Chu Đệ khiến ông có những suy nghĩ khác. Ông là con trai thứ tư của Chu Nguyên Chương, theo lẽ thường thì ngai vàng không liên quan đến ông. Nhưng sau khi Chu Nguyên Chương qua đời, cháu đích tôn là Chu Doãn Văn lên ngôi, tức Kiến Văn Đế, điều này đã khiến Chu Đệ nảy sinh dã tâm với hoàng vị.

Nhân vật Chu Đệ trên phim.
Chu Doãn Văn là con trai của thái tử Chu Tiêu. Đáng lẽ Chu Tiêu sẽ kế vị, nhưng ông mất sớm nên Chu Nguyên Chương vì thương con mà truyền ngôi cho cháu. Tuy nhiên, điều này lại dẫn đến vấn đề: Kiến Văn Đế tuy nhân hậu, hiếu học nhưng còn quá trẻ, nền tảng chính trị yếu. Trong khi đó, các hoàng tử của Chu Nguyên Chương đều từng chinh chiến khắp nơi, nắm giữ binh quyền, nên không cam tâm thần phục người cháu trẻ tuổi.
Để giảm bớt mối đe dọa từ các phiên vương, Kiến Văn Đế thực hiện chính sách “tước phiên”. Nhiều phiên vương không đủ thực lực nên buộc phải chấp nhận, nhưng Yên vương Chu Đệ thì không. Là một trong những phiên vương mạnh nhất, văn võ song toàn, giàu kinh nghiệm chiến trận, Chu Đệ không chấp nhận việc bị cắt giảm quyền lực. Năm 1399, ông phát động binh biến tại Bắc Bình với khẩu hiệu “Thanh quân trắc, tĩnh quốc nạn”, sử gọi là Tĩnh Nan chi biến.
Ngoài việc không cam tâm, một giấc mộng cũng khiến Chu Đệ thêm quyết tâm. Ông từng mơ thấy cha mình ban cho một chiếc đại khuê – biểu tượng của hoàng quyền – và nói: “Truyền thế chi tôn, vĩnh thế kỳ xương”. Sau đó, ông nhận tin con dâu sinh cháu trai, đặt tên là Chu Chiêm Cơ. Người xưa vốn tin vào điềm mộng, nên Chu Đệ đặc biệt coi trọng đứa cháu này.
Nhân vật Chu Cao Sí trên phim.
Sau khi giành thắng lợi và lên ngôi, việc lập thái tử lại trở thành vấn đề khó. Chu Đệ cho rằng Chu Cao Sí nhân hậu, nho nhã, giống Kiến Văn Đế, thích hợp làm người tốt nhưng chưa chắc là một hoàng đế mạnh mẽ. Trong khi đó, Chu Cao Hú dũng mãnh, quyết đoán, lập nhiều công trong chiến tranh, có phần giống chính ông.
Triều đình cũng chia rẽ: văn quan ủng hộ Chu Cao Sí, võ quan nghiêng về Chu Cao Hú. Một ngày, Chu Đệ triệu đại thần Giải Tấn vào bàn việc lập thái tử. Giải Tấn vốn ủng hộ Chu Cao Sí nên nói: “Hoàng trưởng tử nhân hiếu, lòng người quy phục”. Nhưng Chu Đệ không biểu lộ thái độ. Thấy vậy, Giải Tấn tung “đòn quyết định”, nhẹ nhàng nói ba chữ: “Hảo Thánh Tôn”.
Nghe ba chữ này, hai người nhìn nhau mỉm cười, và người kế thừa tương lai của nhà Minh cũng được định đoạt. Bởi lẽ, nếu Chu Chiêm Cơ là “thiên tuyển chi nhân”, thì ngôi thái tử tất nhiên phải thuộc về cha của ông – tức trưởng tử Chu Cao Sí.
Giải Tấn tự Đại Thân, tự cũ là Tấn Thân, hiệu Xuân Vũ, hiệu cũ là Hỉ Dịch, thụy Văn Nghị, người Cát Thủy, nay là huyện Cát Thủy, địa cấp thị Cát An, tỉnh Giang Tây. Ông là nội các thủ phụ (người đứng đầu nội các) đầu tiên của nhà Minh.
Giải Tấn sinh ra trong gia đình quan lại. Ông nội là Giải Tử Nguyên, nguyên là phán quan An Phúc châu. Do binh biến loạn lạc, giữ lễ nghĩa mà chết. Cha đẻ là Giải Khai, Minh Thái Tổ thường triệu kiến luận bàn chính sự và muốn ông ra làm quan nhưng ông từ chối.
Khi còn nhỏ Giải Tấn đã tỏ rõ tài năng hơn người. Năm Hồng Vũ thứ 21 (1388) ông đỗ tiến sĩ, được Minh Thái Tổ rất yêu quý, coi như con, được phép nói những điều khó nghe. Minh Thái Tổ nói điều này với Giải Tấn tại Đại bảo tây thất và ngay trong ngày ông đã dâng lên cho Minh Thái Tổ bài tấu gọi là Phong sự vạn ngôn, được hoàng đế khen ngợi, gọi ông là kỳ tài và cho ông làm ngự sử. Hàn quốc công Lý Thiện Trường (1314-1390) mắc tội bị Minh Thái Tổ giết. Ông cùng lang trung Vương Quốc Dụng thảo sớ minh oan cho Thiện Trường. Sau đó ông lại cùng Hạ Trường Văn thảo sớ hặc tội đô ngự sử Viên Thái làm cho Viên Thái căm ghét. Khi Giải Khai vào chầu Thái Tổ, vị hoàng đế ban chiếu viết rằng Giải Tấn tuổi trẻ tài cao nên kiêu ngạo, vì thế cho về nhà mười năm học hành thêm rồi sẽ trọng dụng.
Tám năm sau (1398), Minh Thái Tổ chết. Ông quay lại triều đình, hữu ti hặc Giải Tấn làm sai chiếu chỉ cộng với tang mẹ chưa hết và cha đã 90 tuổi nên bị biếm làm vệ lại ở Hà Châu. Khi đó Lễ bộ thị lang Đổng Luân là thân tín của Minh Huệ Đế. Giải Tấn đã viết thư cho Đổng Luân. Luân lại tiến cử Giải Tấn và ông được triệu về kinh đô.
Thời kỳ Minh Thành Tổ trị vì, cho mở Văn Uyên các, Giải Tấn cùng Hoàng Hoài, Dương Sĩ Kỳ, Hồ Quảng, Kim Ấu Tư, Dương Vinh, Hồ Nghiễm vào làm việc tại Văn Uyên các. Tháng 11 âm lịch năm 1402, ông thay Hoàng Hoài chính thức giữ chức giữ chức vụ Nội các thủ phụ, phụng mệnh Minh Thành Tổ làm chủ biên trong việc biên soạn Vĩnh Lạc đại điển, và tới năm 1408 thì công trình này hoàn thành.
Ngoài khuyên Chu Đệ lập Chu Cao Sí làm thái tử, Giải Tấn còn can gián chuyện Chu Cao Hú yêu vợ lẽ, xin được có lễ nghi vượt cả vợ cả, rằng "Thế nào cũng có tranh giành, chẳng nên" nhưng Minh Thành Tổ không nghe và cho rằng ông chia rẽ tình cha con của Minh Thành Tổ với Chu Cao Hú và không còn tin tưởng ông nữa. Sau đó, Cao Hú lại gièm pha rằng ông ăn nói phạm cả những từ cấm (duệ cấm trung ngữ). Tháng 2 âm lịch năm Vĩnh Lạc thứ 5 (1407) do duệ cấm trung ngữ và đình thí độc quyển bất công (chấm bài thi đình không công minh), ông bị bãi chức nội các thủ phụ và giáng làm tham nghị Quảng Tây, sau lại bị Lý Chí Cương sàm tấu rằng ông thở than oán trách, nên lại bị giáng tiếp xuống làm tham nghị Giao Chỉ.
Năm Vĩnh Lạc thứ 8 (1410), Giải Tấn về kinh đô tấu trình công việc, nhưng Minh Thành Tổ khi đó đang đem quân chinh phạt phương bắc nên ông chỉ vào chầu thái tử rồi về, bị Hán vương Chu Cao Hú buộc tội "tư cận thái tử, vô nhân thần lễ". Minh Thành Tổ bực tức và hạ chiếu bắt ông bỏ tù. Sự kiện này diễn ra tháng 6 năm 1411.
Năm Vĩnh Lạc thứ 13 (1415) cẩm y vệ đô chỉ huy thiêm sự Kỷ Cương dâng sổ sách ghi chép tên tuổi tội phạm, Minh Thành Tổ thấy tên Giải Tấn bèn hỏi: "Tấn do tại da?" (Tấn còn hay mất?). Do vậy Kỷ Cương ép Tấn uống rượu say mềm rồi đem vứt ra ngoài trời đầy tuyết trắng. Ông chết, hưởng dương 47 tuổi. Toàn bộ vợ con Giải Tấn bị đày đi Liêu Đông và gia sản của ông bị tịch thu.
Vietbf @ Sưu tầm