Cả hệ thống chính trị lẫn hệ thống công quyền Việt Nam đang cùng ḥa giọng, rằng rồi đây Việt Nam sẽ trở thành “quốc gia phát triển, thu nhập cao” vào năm 2045. Bệ phóng được nêu ra là bốn… nghị quyết: về khoa học – công nghệ – đổi mới sáng tạo; về hội nhập quốc tế; về đổi mới xây dựng và thi hành pháp luật; về phát triển kinh tế tư nhân.

Nghe qua rất hoành tráng. Nhưng v́ tính khả thi và mức độ hữu dụng của các nghị quyết ấy đă được bàn tới quá nhiều, người viết xin phép không lặp lại. Chỉ xin dừng ở một chi tiết đang được đem ra khoe như bằng chứng hùng hồn cho “tương lai tươi sáng”: tổng thương mại Việt Nam đạt 801 tỷ USD, chính thức lọt top 15 toàn cầu, áp sát Ấn Độ.
Một con số lớn. Rất lớn. Nhưng vấn đề nằm ở chỗ: lớn để làm ǵ, và lớn theo cách nào?
Tổng thương mại: con số gộp và tṛ “đánh lận con đen”
“Tổng thương mại” thực chất chỉ là phép cộng của hai yếu tố: giá trị hàng hóa xuất cảng và giá trị hàng hóa nhập cảng. Trong 801 tỷ USD được đem ra làm thành tích, có khoảng 410.3 tỷ USD là kim ngạch xuất khẩu, phần c̣n lại – 390.7 tỷ USD – là kim ngạch nhập khẩu.
Khi không phân định rơ xuất – nhập – thặng dư, việc khoe “tổng” dễ dẫn đến ngộ nhận: tưởng rằng kinh tế đang mạnh lên toàn diện, trong khi bản chất lại hoàn toàn khác. Cách diễn giải mập mờ ấy chẳng khác nào tung hỏa mù, gieo một thứ lạc quan giả tạo, mà ẩn họa phía sau có thể là… chết chùm.
Xuất khẩu 410.3 tỷ USD quả là đáng kể. Nhưng đáng lo nằm ở chỗ hơn 70% giá trị ấy thuộc về khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Họ mang vốn, mang hợp đồng, mang chuỗi cung ứng toàn cầu vào Việt Nam; c̣n lợi nhuận, phần lớn, lại chảy ngược ra ngoài.
FDI nhiều, dân được bao nhiêu?
Các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam chủ yếu thuê đất, thuê lao động nội địa để gia công. Thuế họ nộp không tương xứng với doanh thu và lợi nhuận khổng lồ. Người lao động làm thuê trong các nhà máy ấy không được hưởng ǵ thêm khi kim ngạch xuất khẩu tăng. Đồng ngoại tệ kiếm được từ xuất khẩu, sau cùng, cũng không ở lại để cải thiện mức sống của số đông.
Về lư thuyết, FDI chỉ thực sự có lợi nếu kéo theo chuyển giao công nghệ, tạo liên kết với doanh nghiệp nội địa, nâng cấp nhân lực từ lao động giản đơn sang lao động kỹ thuật cao, giúp doanh nghiệp trong nước lớn lên cùng chuỗi xuất khẩu. Nhưng đă vài thập niên trôi qua, sự liên kết ấy vẫn chỉ nằm trên giấy.
Doanh nghiệp nội địa không trở thành mắt xích quan trọng trong chuỗi giá trị. Công nghệ không được hấp thụ đáng kể. Nhân lực vẫn quanh quẩn ở tầng thấp. Cái gọi là “lan tỏa tích cực” của FDI vẫn ở… chân trời.
Tổng thương mại tăng, doanh nghiệp nội địa… rút lui
Nghịch lư nằm ở đây: tổng thương mại liên tục lập kỷ lục, nhưng hệ thống doanh nghiệp nội địa lại suy kiệt.
Theo số liệu thống kê chính thức, riêng năm 2024 đă có khoảng 180.000 doanh nghiệp rút khỏi thị trường, dưới đủ h́nh thức: tạm ngưng, ngừng hoạt động để chờ giải thể, hoặc đă giải thể xong. Chỉ trong 10 tháng của năm tiếp theo, thêm hơn 190.000 doanh nghiệp nữa biến mất.
Nếu tổng thương mại thật sự phản ánh sức khỏe nền kinh tế, tại sao doanh nghiệp nội địa – trụ cột đáng lẽ phải lớn mạnh nhất – lại lần lượt rời cuộc chơi?
“China shock”: tấm gương c̣n nóng hổi
Thế giới từng chứng kiến “cú sốc Trung Quốc”. Từ giữa thập niên 1980 đến giữa thập niên 2010, Trung Quốc say sưa với các con số tăng trưởng ngoạn mục, dựa trên xuất khẩu khổng lồ và ḍng FDI ồ ạt. Giá đất rẻ, thuế thấp, nhân công rẻ – Trung Quốc tự nguyện biến ḿnh thành công xưởng làm thuê cho thế giới.
Chỉ đến khi kinh tế toàn cầu trục trặc, doanh nghiệp FDI thu hẹp hoặc rút đi, Trung Quốc mới thấm mặt trái: thất nghiệp tăng, thu nhập cá nhân không theo kịp GDP, xă hội bất ổn. Lúc ấy mới thấy việc ưu ái FDI, coi nhẹ doanh nghiệp nội địa là một kiểu tự hủy.
Ngay cả khi đă chuyển hướng, đề cao tiêu dùng nội địa, nói nhiều đến “lưu thông kép”, đầu tư trở lại cho chuỗi cung ứng trong nước, tiến tŕnh sửa sai vẫn chậm chạp và cực kỳ tốn kém. Hàng tỷ người dân vẫn đang trả giá cho sai lầm của những năm chạy theo chỉ tiêu tăng trưởng và kim ngạch xuất khẩu.
Việt Nam đang đi vào vết xe cũ?
Việt Nam, v́ nhiều lư do, vẫn nh́n Trung Quốc như một “khuôn mẫu”, sao chép từ tư duy quản trị đến cách điều hành kinh tế – xă hội. Không khó hiểu khi các viên chức lănh đạo hân hoan với con số “tổng thương mại” kỷ lục, dù thực trạng đời sống cho thấy dân chúng ngày càng tuyệt vọng về hiện tại lẫn tương lai.
Câu hỏi then chốt không nằm ở chỗ 801 tỷ USD đẹp cỡ nào, mà ở chỗ: ai hưởng lợi từ đó, và ai sẽ gánh hậu quả? Khi doanh nghiệp nội địa lụn bại, khi lao động chỉ làm thuê với thu nhập thấp, khi lợi nhuận chảy ra ngoài, th́ cái gọi là “tự hào” ấy khác ǵ tự sát kinh tế?
Tự hào cho ai, và cái giá ai trả?
Một quốc gia không thể trở thành “thu nhập cao” chỉ bằng những con số gộp. Không thể vươn lên bằng cách khoe tổng thương mại, trong khi nền tảng doanh nghiệp nội địa rỗng dần. Và càng không thể xây tương lai trên sự lạc quan được nuôi bằng hỏa mù thống kê.
Nếu cứ tiếp tục say sưa với những con số đẹp mà né tránh câu hỏi về chất lượng tăng trưởng, về nội lực kinh tế, về sinh kế thực sự của người dân, th́ đến năm 2045, điều c̣n lại rất có thể không phải là “quốc gia phát triển”, mà là một xă hội trả giá nặng nề cho một thời tự hào… sai chỗ.
Và như thường lệ, người gánh hậu quả, e rằng vẫn chỉ có một đáp án quen thuộc: lại là dân.