Đại Hội Kỳ Niệm Lần Thứ 74 “ Thủ Đức Gọi Ta Về “ của các cựu sĩ quan trừ bị Thủ Đức được diễn ra tại Houston TX .
Hậu Duệ VNCH Vinh Danh Các cựu sĩ quan Liên Trường Võ Khoa Thủ Đức.
Kính thưa các bậc trưởng thượng, Hoa Thuong Thich Huyen Viet & quý vị lãnh đạo tinh thần các tôn giáo, quý vị cựu quân nhân, quý vị đại diện cộng động và đoàn thể, các anh chị em Hậu Duệ VNCH, cùng toàn thể quý quan khách thân mến,
Là một hậu duệ VNCH Hải Ngoại, chúng con thật vinh dự được có mặt ngày hôm nay để cùng quý thân hữu và quan khách vinh danh các cựu khóa sinh của Liên Trường Võ Khoa Thủ Đức. Và đặc biệt là cùng chia sẻ niềm vui, và niềm hãnh diện của chúng con, những người con của các bà mẹ, những vị phu nhân Thủ Đức đáng kính.
Kể từ khi Trường Bộ Binh Thủ Đức được hình thành năm 1951, từ khóa 1 đến khóa cuối cùng vào năm 1975, đã có 83 khóa sĩ quan trừ bị, đào tạo hàng ngàn khoá sinh, đứng lên nhận lãnh trách nhiệm của một người sĩ quan quân lực VNCH. Họ là những chàng trai trẻ khi tuổi đời chỉ mới đôi mươi,
đã nhập ngũ để đem cống hiến kiến thức và nghị lực của mình bảo vệ đất nước và đồng bào miền Nam, trước cuộc xâm lăng tàn bạo của cộng sản Bắc Việt.
Trong suốt hai mươi lăm năm chiến tranh ròng rã , những vị sĩ quan Thủ Đức luôn tiên phong lãnh đạo một quân đội hùng mạnh, trong những Quân, Binh Chủng Hải Quân, Không Quân, Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Động Quân, Pháo Binh, Thiết Giáp Binh, Lực Lượng Đặc Biệt, Biệt Kích, Nha Kỹ Thuật, các Sư Đoàn Bộ Binh, Truyền Tin, Địa Phương Quân, xây dựng nông thôn và đã lập bao chiến công lẫy lừng trên khắp bốn vùng chiến thuật. Họ đã cùng đồng đội hy sinh biết bao nhiêu xương máu . Cuối cùng, họ phải gánh chịu tù đày , khổ sai sau khi đất nước được gọi bằng bốn chữ mĩ miều là “ Hoà bình - Thống nhất”
Nhưng vì được rèn luyện tinh thần bất khuất hào hùng, họ tiếp tục phấn đấu vương lên để gầy dựng lại cuộc đời trong mọi hoàn cảnh gian khổ. Khi phải tái định cư tại một quốc gia thứ hai, những cựu khóa sinh võ khoa ngày nào là những người cha, người chồng tiếp tục hy sinh cho gia đình có được một đời sống hạnh phúc trọn vẹn.
Là một người con lính, chúng con thường hỏi ba mẹ tại sao trong một cuộc chiến tàn khốc, một người lính trẻ VNCH, một vị sĩ quan mới ra trường có thể ra đi và không trở về, với thương tật và cái chết cận kề, lại chinh phục được người vợ trẻ ở hậu phương…
Có phải vì nét oai phong trong bộ quân phục nhà binh, hay nét hồn nhiên của một thanh niên trẻ đầy nghị lực và nhiệt huyết, hay nét phong trần của một người lính chiến luôn đối diện với chiến tranh và khói lữa, hay là tinh thần trách nhiệm được trưởng thành từ quân trường và chiến trường khốc liệt.
Tất cả những yếu tố đó đều đúng, nhưng quan trọng hơn hết là những người vợ trẻ hậu phương ngày nào, những người mẹ đáng yêu của chúng con hôm nay là sức mạnh lớn lao nhất cho những mối tình đẹp và đáng quý trong thời chiến.
Mẹ và các cô là nghị lực, là niềm hy vọng, là mái ấm gia đình của những người lính VNCH. Trong thời chiến, người vợ lính phải tảo tần nuôi con , hàng ngày cầu mong cho chồng mình được bình an trở về từ chiến trường. Sau thời chiến, họ phải tiếp tục thay chồng gánh vác gia đình, gồng gánh đi thăm chồng ở nơi rừng sâu nước độc. Cầu mong cho chồng thoát cảnh tù đày cay đắng.
Những người lính VNCH oai hùng, những cô gái miền Nam VNCH trẻ đẹp, những tình yêu đẹp và đáng quý của họ đã trở thành những câu chuyện tình bất hủ , đã tiếp sức cho các chàng trai trẻ miền nam làm nên những trang sử hào hùng , nền văn hoá đầy tình người và nhân bản của người Việt Tự Do hôm nay và bao thế hệ tương lai
Hôm nay, nhìn các cô chú bác được họp mặt trong tình huynh đệ, tình yêu vợ chồng sau bao nhiêu thăng trầm của nửa một thế kỷ, và cũng như những ngày chúng con được diễm phúc gần gũi cha mẹ mình, chúng con thật xúc động trong niềm vui và hãnh diện mình là con lính VNCH.
Chúng tôi mong rằng những cống hiến cao quý của thế hệ cha mẹ đi trước sẽ làm một nền tảng vững chắc, một nguồn năng lực mạnh mẽ cho các thế hệ hậu duệ VNCH , để chúng ta cùng nhau tiếp tục gìn giữ lá cờ vàng ba sọc đỏ mà thế hệ cha chú đã hy sinh xương máu để bảo vệ , để duy trì quân sử của Quân Lực VNCH cho hậu thế.
Con kính chúc quý cô chú bác cùng quan khách thật vui, hạnh phúc và nhiều sức khỏe.
Xin cám ơn quý vị.
Hậu Duệ VNCH Hải Ngoại .
Ông bảo tên mình là Bruce, đến từ bên kia Thái Bình Dương. “Tôi không phải nhà văn,” ông cười, “tôi chỉ biết giữ lại ánh sáng.” Rồi ông giương máy. Sài Gòn lọt vào khung ngắm, như một cô gái vừa soi gương vừa quay mặt đi, nửa e thẹn nửa bạo dạn.
Buổi sáng, phố d’Arras (Hàm Nghi) còn mát rượi. Ngọn tháp đền Ấn ngửa mặt lên trời xanh, những tượng thần như đang thì thầm bằng thứ tiếng cổ mà người qua đường vẫn nghe thành tiếng rao bánh mì. Trước cổng, một chiếc xe hơi màu kem đậu nghiêng, bóng nắng lăn trên capo. Bruce hít sâu: mùi dầu hỏa, mùi nhang, mùi vải mới, tất cả hòa thành mùi của một thành phố đang cố sống hết ngày hôm nay trước khi nghĩ đến ngày mai.
Đến trưa, ngã bốn Tự Do – Lê Lợi sáng lóa. Quán Continental nửa đứng nửa ngồi, cửa kính phản chiếu mây bay. Xe buýt đỏ lừ lừ bò qua, lính thủy đánh bộ Mỹ ngồi sau thùng xe, áo sơmi bỏ ngoài quần như chưa kịp chọn bên nào của thế giới. Bruce bấm máy đúng lúc một chiếc Ford lướt qua mép ảnh—những đường cong thép lạnh như đã dự đoán trước tương lai sẽ bẻ lái về đâu.
Chiều rơi, tấm bạt sọc xanh trắng của USO Saigon đung đưa. Vài chàng trai tóc chải bóng, mắt non, đứng nép dưới mái hiên tránh một cơn mưa thoáng. Họ cười nói rổn rảng như thể cuộc chiến chỉ là tin tức trên radio. Bruce không hỏi tên ai. Ông biết, đặt tên cho một khuôn mặt ở đây đôi khi đồng nghĩa với cột chặt mình vào một nỗi lo.
Giữa vòng xoay, chiếc xe buýt Công Quản ho sù sụ rồi tắt lịm. Người Sài Gòn ùa ra đẩy—cả lính dù lẫn sinh viên, áo sơmi lẫn bà ba. Bánh xe quay lại, khói xanh thả lên trời như một lời khấn. Bruce chụp liên hồi, tay run nhẹ: có những khoảnh khắc làm người ta tin vào một thứ gì đó hiền lành hơn cả lịch sử.
Ở chợ, hai cô gái đội mẹt mít tố nữ cao như tháp nhỏ. Mồ hôi đọng thành giọt trên mép khay, ánh nắng lách qua kẽ tay, vàng ươm. “Mua nghen chú!”—câu gọi gọn gàng như một khúc nhạc. Bruce giơ máy xin phép. Tiếng cười các cô giòn như hạt cốm. Ông nghĩ: chiến tranh không thắng nổi cái thói quen mưu sinh mỗi sớm.
Đêm xuống, đài phun nước rải lụa bạc giữa lòng đại lộ. Đèn neon trổ bông trên mặt nước; tiếng xe, tiếng giày, tiếng kèn vọng từ một quán bar nào đó. Một người đàn bà ôm con băng qua đường, tà áo chạm một vệt sáng rồi tắt, như sao băng. Bruce đứng rất lâu. Ở quê nhà ông, mẹ cũng thường dắt ông qua phố như vậy, qua những năm tháng chẳng biết đặt tên.
Sáng hôm sau, bờ Bến Bạch Đằng êm như một bờ vai. Trẻ con tắm sông, đùa nhau té nước. Tàu hàng neo chen nhau như người ở trọ. Bruce nghĩ đến những lá thư sẽ được gửi đi từ đây, lẫn trong mùi gió nước và dầu máy, có lẽ đến kịp trước một cuộc hành quân, có lẽ không.
Ông ghé Nhà Quốc Hội VNCH (nay là nhà hát) Thành phố—mái vòm trắng như nụ hoa khổng lồ. Một chiếc US Navy pickup đỗ sát lề. Người tài xế châm thuốc, ngọn lửa bé bằng móng tay mà làm ấm cả góc ảnh. Trên đường Catinat, chiếc Beetle xanh ve ve bò qua rặng cây cao vút; hai chiếc xích lô điềm nhiên như chưa bao giờ biết đến khói đạn. Bruce bấm thêm một tấm, hiểu rằng những hàng cây này lưu giữ không chỉ bóng râm mà cả những cuộc tình giấu tên.
Cuối cùng, chợ Bến Thành. Tháp đồng hồ nhìn phố với vẻ hiền hòa của một người già biết nhiều chuyện mà không kể. Vài chiếc xích lô lững thững, người đạp đội nón cối ngả về phía trước, như ngả vào lưng thời gian. Bruce chụp tấm cuối. Trong ống kính, Sài Gòn vừa bền bỉ vừa mong manh; vừa ồn ào vừa biết cách nín thở.
Nhiều năm sau, khi tóc bạc và tay bớt vững, Bruce mở hộp ảnh. Ánh sáng cũ vẫn còn đó. Ông nhớ tiếng rao mít, nhớ khói xe buýt, nhớ giọt mưa xứ nhiệt đới búng vào ống kính. Và hơn hết, ông nhớ cảm giác mỗi lần bấm máy: như đóng cái chốt nhỏ cho một cánh cửa vừa kịp mở—cánh cửa nhìn vào một thành phố đã chọn cách sống tận tình trong những ngày bất trắc.
Nếu ai hỏi Sài Gòn 1965 là gì, ông sẽ đưa họ xem những bức ảnh ấy. Không phải để kể chuyện chiến tranh, mà để kể chuyện người: những khuôn mặt đi qua khuôn hình, để lại trong ông—và trong chúng ta—một lời nhắc dịu dàng: Ở nơi tiếng còi và tiếng súng từng chen nhau, vẫn có những trái mít, những tia nước, những vòng bánh xe, và những cái nắm tay đẩy chiếc xe buýt trở lại đường. https://photos.app.goo.gl/gXNYDD8uaaHPaw136
Bước vào căn phòng, người xem như được đưa ngược thời gian về thập niên 1970: gỗ đỏ bóng loáng, tay nắm đồng vuông vức, đèn chùm pha lê, thảm đỏ họa tiết Á Đông, radio bán dẫn và những chiếc điện thoại màu olive – hồng – be rất “Sài Gòn xưa”. Không gian đã được Dinh Độc Lập mở cho công chúng tham quan từ năm 2016, tái hiện khá đầy đủ một phòng làm việc – tiếp khách của vị tướng không quân, cựu Thủ tướng, PTT VNCH Nguyễn Cao Kỳ.
Bố cục hai nửa – rành mạch mà ấm cúng
Căn phòng chia thành hai phần rõ rệt. Bên trái là khu tiếp khách: bộ sofa bọc vải vàng ấm, bày trà cụ trên bàn gỗ nhỏ; dưới chân là thảm đỏ điểm họa tiết vàng, tạo điểm nhấn sang trọng. Trên tường là một bức ảnh khổ lớn phong cảnh miền Trung; cạnh đó là kệ sách với vài niên giám sĩ quan – những ấn phẩm hành chính của thời kỳ đó. Treo nổi bật là chân dung bà Tuyết Mai (theo giới thiệu của khu trưng bày) – nét mềm mại, tươi tắn cân bằng vẻ nghiêm cẩn của đồ gỗ.
Bên phải là nơi làm việc của ông Kỳ. Chiếc bàn lớn phủ da đặt giữa phòng, phía trước là bảng tên “NGUYEN–CAO–KY”. Trên mặt bàn, ngoài hồ sơ bìa dây, gạt tàn và bút mạ kim loại, gây chú ý nhất là nhiều điện thoại màu sắc khác nhau – dấu vết của các đường liên lạc riêng. Gần đó là mô hình máy bay Air Việt Nam, gợi nhớ một thời ngành hàng không dân dụng miền Nam phát triển. Hai bên tường sử dụng máy điều hòa kiểu tủ – loại điều hòa phổ biến ở các công sở cao cấp trước 1975.
Bức tường kể chuyện
Ngay sau ghế làm việc là một mảng tường ốp ảnh khổng lồ: “Cao nguyên trung phần” (Tây Nguyên) của nhiếp ảnh gia Nguyễn Cao Đàm được in khổ lớn, phủ trọn hậu cảnh. Tấm ảnh không chỉ mở rộng chiều sâu thị giác mà còn như “đặt” người xem vào không gian núi rừng – nơi từng là chiến lược điểm của cuộc chiến. Dưới bức tường ảnh là vài khung hình: chân dung cá nhân, ảnh các tổng thống và sĩ quan Hoa Kỳ – những lát cắt quan hệ quốc tế của giai đoạn ấy.
Ánh nhìn từ ô cửa sổ
Từ cửa sổ phòng, thảm cỏ hình bầu dục và đài phun nước trước Dinh hiện ra trọn vẹn; xa hơn là hàng cây rợp bóng của công viên. Khung cảnh ấy làm “mềm” một căn phòng chính vụ, giúp người đứng đây vừa bao quát quảng trường, vừa giữ khoảng lặng riêng tư để suy nghĩ và quyết định.
Vật dụng – chi tiết nhỏ, ký ức lớn
* Radio xách tay đặt trên tủ dài – biểu tượng của thời đại thông tin vô tuyến, nơi tin tức được nắm bắt từng giờ.
* Tủ sách với Sĩ quan niên giám 1971–1972 và các tập tài liệu dày đóng chỉ – cho thấy nhịp hành chính của một chính quyền thời chiến.
* Nội thất gỗ đóng đồng bộ, đường nét đơn giản, khỏe khoắn – phong cách hiện đại giữa thế kỷ (mid-century) pha thẩm mỹ Á Đông.
Tất cả tạo nên một tổng thể vừa chức năng, vừa nhiều lớp ký ức: của một con người, của một chính thể, và của một đô thị từng mang tên Sài Gòn.
1. Tủ gỗ dài, radio bán dẫn và cụm điện thoại kiểu cũ.
2. Nhìn từ cửa sổ phòng ông Nguyễn Cao Kỳ ra đài phun nước Dinh Độc Lập.
3. Bàn làm việc lớn với bảng tên “NGUYEN–CAO–KY”, hồ sơ, điện thoại.
4. Điều hòa kiểu tủ – thiết bị làm mát phổ biến thập niên 1970.
5. Kệ sách với “Sĩ quan niên giám 1971–1972” và tài liệu hành chính.
6. Khu tiếp khách: sofa bọc vải vàng, thảm đỏ họa tiết.
7. Chân dung bà Tuyết Mai (theo giới thiệu trưng bày).
8. Toàn cảnh căn phòng: trái tiếp khách – phải làm việc.
9. Góc làm việc nhìn thẳng vào mảng tường ảnh “Cao nguyên trung phần”.
10. Cận cảnh bức ảnh tường khổ lớn của nhiếp ảnh gia Nguyễn Cao Đàm.
Trước 1975, Cần Thơ là tỉnh lỵ của Phong Dinh, vừa mang dáng dấp một đô thị miền Tây đang lớn, vừa giữ nguyên nhịp sống sông nước. Con người nhớ về Cần Thơ thời ấy bằng những tiếng động rất đặc trưng: tiếng chuông nhà thờ, tiếng rao hàng, tiếng máy ghe rù rì dọc bến Ninh Kiều, thi thoảng chen lẫn còi xe lam và chuông xe đạp. Những bức ảnh xưa còn lưu lại: đường phố rợp bóng cây, xích lô chầm chậm, áo dài trắng đi học, chợ búa tấp nập, và đâu đó tấm bảng “Tòa Hành Chánh” chữ đúc rõ ràng trên nền tường vôi sáng.
Phố và người
Cần Thơ khi ấy không ầm ào như Sài Gòn nhưng rất sinh khí. Trên các trục phố rợp cây, xích lô là phương tiện “chủ lực”; người đạp chỉ cần cúi lưng là có thể đưa khách băng qua những con đường thoáng đãng. Xe đạp nối nhau, xe lam chạy bon bon, còn xe máy của những tiểu thương khá giả hay viên chức trẻ chỉ điểm xuyết. Bóng áo dài nữ sinh đi từng nhóm trên vỉa hè lát gạch, mũ vành nhỏ nghiêng che nắng—một nét nền nã rất “Tây Đô”.
Các công sở đặt rải rác quanh trung tâm; nổi bật là Tòa Hành Chánh tỉnh—một kiến trúc hiện đại thời cộng hòa, mặt tiền phẳng phiu, chữ nổi sắc nét. Bên cạnh là bệnh viện, bưu điện, rạp chiếu bóng, những tiệm chụp ảnh, tiệm tạp hóa của người Hoa, người Việt chen nhau sinh sống. Đô thị miền sông nước nên phố không biệt lập: chỉ vài trăm mét là chạm bến bờ.
Ninh Kiều – chợ nổi – nhịp mưu sinh trên sông
Bến Ninh Kiều là trái tim. Sáng sớm, sương còn mỏng, chợ đã rộn: ghe trái cây từ các rạch nhỏ nườm nượp, dây neo lách cách, tiếng rao “vú sữa Vĩnh Kim, bưởi Phong Điền, dừa Bến Tre…” nghe đến dễ thèm. Xa hơn là chợ nổi Cái Răng, Phong Điền: ghe thương hồ căng sào treo mẫu hàng—bí, dưa, khóm—nhìn sào là biết bán gì, khỏi cần cãi nhau. Đàn ông thả chài, vợ ngồi mũi ghe tính tiền, con nít ngủ gục trên đống xoài, cái nghèo cái vui lẫn vào nhau như vị mặn của nước sông.
Những bức ảnh còn ghi cảnh thả lưới giữa dòng: thân người gồng lên, tấm chài xòe như một bông sen đỏ, phía sau là hàng rào gạch và những vườn chuối xanh ấm.
Cả một nền kinh tế sông nước đã nuôi lớn Cần Thơ như thế—bằng gạo, trái cây, cá tôm và sự khéo léo của dân thương hồ. Chùa, miễu, nhà thờ – bức tranh đa sắc của tín ngưỡng
Đời sống tinh thần của Cần Thơ trước 1975 hiện rõ trên những mái ngói cổ kính. Miễu hội quán người Hoa ở khu chợ bờ sông, cổng sơn đỏ, nóc đắp rồng phượng men xanh; nhà chùa mái thấp, rêu phong; nhà thờ xây theo lối Tây phương giản dị. Sự chung sống ấy hiền hòa và thực tế—ai làm ăn nấy, nhưng hễ có việc chùa, lễ hội hay đám rước là cả khu phố rộn ràng.
Trong ký ức nhiều người là hình ảnh các sơ nụ cười hiền hậu dẫn trẻ mồ côi đi thành hàng; những cơ sở bác ái tôn giáo lặng lẽ cưu mang phận nghèo, dạy trẻ biết chữ, băng bó vết thương chiến cuộc mà chẳng cần nói nhiều.
Nhà trường, sinh viên và khát vọng học hỏi
Từ thập niên 1960, Cần Thơ bắt đầu có các trường trung học nổi tiếng ở miền Tây, rồi một trường đại học non trẻ xuất hiện, gieo khát vọng tri thức cho cả vùng đồng bằng. Sách vở, báo quốc ngữ, tạp chí văn nghệ theo sông mà về; quán cà phê nhỏ quanh bến bờ tối tối có tiếng ghi-ta, mấy chàng sinh viên đọc thơ, bàn chuyện quốc gia đại sự, mơ ngày lập nghiệp.
Chiến tranh đi ngang – đời sống vẫn tiếp tục
Chiến tranh không chừa ai, nhưng Cần Thơ có cái điềm tĩnh của vùng đất sông rạch. Ở ngoại ô là trại lính, căn cứ không quân Bình Thủy; trong thành phố có lính VNCH và các phái đoàn dân sự nước ngoài qua lại. Trên thân chiếc Jeep hoặc trước cổng vài cơ sở hiện diện những phù hiệu bắt tay, biểu trưng của các chương trình viện trợ thời ấy. Tuy vậy, nhịp sống phố phường vẫn giữ thăng bằng: quán hủ tiếu mở cửa mỗi sáng, chợ đông chiều mưa, rạp hát thay bảng phim mới vào cuối tuần.
Nghề và nếp sống
Một buổi trưa nắng, bạn có thể gặp đôi vợ chồng đẩy xe thồ chở gỗ đi qua phố, người chồng gân guốc, người vợ áo bà ba đen và nón lá—bức tranh lao động chân chất của miền Tây. Bên kia đường, một bà cụ gánh hàng rong, khung xe đạp treo cái túi vải sọc – chiếc “balo” của thời ấy. Trẻ con ngồi vắt vẻo sau yên xe mẹ, tay ôm chặt lưng – cả tuổi thơ bám theo tiếng lục cục của bánh xe trên đường lát đá.
Người Cần Thơ ưa vui mà mộc mạc. Kèo nhậu ở bến sông có thể bắt đầu bằng dĩa khô cá sặc nướng, chấm mắm me, vài cọng rau đắng đất; hoặc một tô hủ tiếu gõ nóng hổi, thêm tách cà phê vợt thơm nức. Mùa nước nổi, cá linh non về, bông điên điển nở, chén canh chua chan đầy vừa mặn vừa ngọt—như tính người nơi đây.
Đô thị đang lớn
Cần Thơ trước 1975 là một đô thị đang lớn chứ chưa kịp “đô thị hóa” triệt để. Phố xá sạch sẽ, vỉa hè rộng, cây xanh nhiều; nhưng chỉ cần đi vài dãy nhà là chạm vào ruộng vườn, rạch nhỏ. Sự chuyển động ấy thể hiện ngay trong kiến trúc: giữa dãy phố tường vôi, đột nhiên vút lên một tòa công sở hiện đại; cạnh mái ngói âm dương lại là căn nhà tân thời với cửa sổ rộng. Tất cả giao thoa, vừa bình dị vừa mới mẻ.
Ký ức còn lại
Nhìn lại những tấm hình cũ—xích lô trên con đường rợp bóng, bến Ninh Kiều nhộn nhịp, mái miễu lộng sắc men, “Tòa Hành Chánh” chữ trắng, trẻ con nắm tay các sơ, cậu bé nghịch ngồi trong chiếc xe nhà binh—ta thấy một Cần Thơ giàu sinh lực. Đó không chỉ là hoài niệm; đó là chứng tích về một đô thị miền Tây đã đi qua chiến tranh mà vẫn giữ được nét hào sảng, sáng sủa.
Cần Thơ trước 1975 vì thế không chỉ là địa danh; đó là một phong cách sống: thong thả mà chịu khó, mở lòng mà đằm thắm. Bến sông vẫn ở đó, những con đường vẫn rợp cây; và trong mỗi người xa xứ, câu hò “Cần Thơ gạo trắng nước trong” còn ngân dài như một lời tự giới thiệu: hiền hòa, mến khách, và không bao giờ đánh mất mình giữa những đổi thay.
Một nhiếp ảnh gia đã may mắn ghi lại được hiện tượng sét xanh cực hiếm bất ngờ xuất hiện trên bầu trời TP Lục Phong ở Sán Vĩ, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc.
Theo HK01, tối 23/8, anh Xin Hongbiao có mặt tại một bãi biển vắng người ở thành phố để chụp ảnh bầu trời đêm. Anh bất ngờ nhìn thấy một tia sét xanh phóng vọt lên bầu trời.
Ảnh: HK01
Hình ảnh do Xin Hongbiao chia sẻ nhanh chóng lan truyền, khiến cộng đồng mạng sửng sốt.
Nhiều người bình luận, được tận mắt chứng kiến và ghi lại khoảnh khắc này, nhiếp ảnh gia chắc chắn "vui hơn trúng số". Sét xanh cực kỳ hiếm gặp trong tự nhiên.
Ông Yang Yuexin, chuyên gia cao cấp thuộc Cục Khí tượng Thâm Quyến, cho biết, sét xanh là dạng phóng điện khí quyển đặc biệt, thường xuất hiện gần đỉnh các đám mây đối lưu mạnh.
Đây là lần hiếm hoi hình ảnh sét xanh được ghi lại rõ nét. Ảnh: Weibo
"Khi điện trường trong mây đạt cường độ cực lớn, các phân tử nitơ trong khí quyển bị kích thích và phát ra ánh sáng xanh lam huyền ảo.
Hiện tượng chỉ kéo dài vài phần nghìn giây nhưng đủ sáng để vươn lên tận tầng điện ly, ở độ cao hàng chục km", ông Yang giải thích. Ông cũng nhấn mạnh xác suất ghi lại hiện tượng này còn hiếm hơn cả “sét đỏ”.
Hiện tượng sét đỏ. Ảnh: HK01
Theo ông Yang, trên toàn thế giới mỗi năm chỉ có vài trường hợp tương tự. "Khoảnh khắc ở Lục Phong có thể xem là một trong những lần sét xanh được ghi lại rõ nét nhất tại Trung Quốc", ông khẳng định.
Các chuyên gia lưu ý, sét xanh không nhất thiết liên quan trực tiếp đến bão nhưng bão tạo điều kiện thuận lợi cho hiện tượng này xuất hiện.
Sét xanh hay đỏ thường xuất hiện ở khoảng cách xa so với tâm dông, vì vậy người quan sát hoặc nhiếp ảnh gia nên giữ khoảng cách an toàn từ 100-300km để tránh rủi ro bị sét đánh trực tiếp và có được góc chụp đủ rộng.
Bộ ảnh lịch “Miss VNCH 2026” là một sự kết hợp độc đáo giữa vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam và tinh thần kiêu hãnh của cộng đồng hải ngoại. Toàn bộ bộ ảnh được dàn dựng công phu với hình ảnh hoa hậu trong tà áo dài vàng rực rỡ, vương miện lộng lẫy, bên cạnh siêu xe Lexus màu vàng có họa tiết ba sọc đỏ – biểu tượng quen thuộc của VNCH.
Bối cảnh của bộ ảnh trải dài qua nhiều địa danh và khung cảnh quen thuộc:
Diễn Đàn Người Việt Hải Ngoại. Tự do ngôn luận, an toàn và uy tín. Vì một tương lai tươi đẹp cho các thế hệ Việt Nam hãy ghé thăm chúng tôi, hãy tâm sự với chúng tôi mỗi ngày, mỗi giờ và mỗi giây phút có thể. VietBF.Com Xin cám ơn các bạn, chúc tất cả các bạn vui vẻ và gặp nhiều may mắn.
Welcome to Vietnamese American Community, Vietnamese European, Canadian, Australian Forum, Vietnamese Overseas Forum. Freedom of speech, safety and prestige. For a beautiful future for Vietnamese generations, please visit us, talk to us every day, every hour and every moment possible. VietBF.Com Thank you all and good luck.