|
R11 Tuyệt Thế Thiên Hạ
Join Date: Aug 2007
Posts: 113,793
Thanks: 7,446
Thanked 47,186 Times in 13,138 Posts
Mentioned: 1 Post(s)
Tagged: 0 Thread(s)
Quoted: 511 Post(s)
Rep Power: 162
|
B. CHƯƠNG TR̀NH VÀ SÁCH GIÁO KHOA TRUNG HỌC
I. CHƯƠNG TR̀NH TRUNG HỌC
1. Chương tŕnh Trung học Hoàng Xuân Hăn 1945
a.Tổng quát
Đây là chương tŕnh Trung học đầu tiên của Việt Nam dùng chuyển ngữ tiếng Việt được một nhóm giáo sư dựa theo chương tŕnh Pháp biên soạn cấp tốc chỉ khoảng 10 ngày dưới sự chủ tŕ của Bộ trưởng Giáo dục và Mỹ thuật Hoàng Xuân Hăn trong thời Chính phủ Trần Trọng Kim. Mặc dù vậy, chương tŕnh này đă được áp dụng trên toàn quốc (gồm cả vùng quốc gia và vùng kháng chiến) trong thời gian từ năm 1945 đến niên khóa 1952-1953, mà tất cả những chương tŕnh Trung học đến sau đều căn bản mô phỏng theo nó, lấy nó làm cơ sở để từ đó bổ sung, sửa đổi cho thích hợp với tŕnh độ học sinh cũng như t́nh trạng tiến triển chung của nền giáo dục và khoa học ở mỗi thời kỳ khác nhau. Kể cả đối với những chương tŕnh mới nhất được áp dụng trong thời VNCH (1955-1975), dấu ấn và ảnh hưởng của chương tŕnh Hoàng Xuân Hăn vẫn c̣n khá sâu đậm.
Trung học chia làm 2 cấp:
(1) Phổ thông học 4 năm, gọi là Đệ nhất niên, Đệ nhị niên, Đệ tam niên, Đệ tứ niên.
Lại chia làm 2 ban gồm: Cổ văn (A) và Kim văn (B);
(2) Chuyên khoa học 3 năm, gọi là Đệ nhất niên, Đệ nhị niên, Đệ tam niên. Lại chia làm 4 ban gồm: ban Khoa học A (chuyên Vạn vật học, Hóa học, Vật lư học), ban Khoa học B (chuyên Toán, Lư hóa), ban Sinh ngữ C (chuyên Văn Việt Nam, Anh, Pháp văn), ban Hán tự D (chuyên Văn Việt Nam, Hán tự, sinh ngữ Pháp hoặc Anh).Các môn học: Quốc văn, Hán, Toán, Lư hóa, Vạn vật, Sinh ngữ, Triết, Kinh tế, Sử, Địa, Vẽ, Thủ công, Nhạc, Nữ công, Nuôi trẻ.Do tính cách tiên phong, lịch sử và tầm quan trọng của bộ chương tŕnh Trung học đầu tiên này, chúng tôi xin chép lại nguyên văn “Thể lệ bậc Trung học” đặt ở đầu bộ chương tŕnh, qua đó thấy được cách sắp xếp, phân chia của các cấp và các ban:
THỂ LỆ BẬC TRUNG HỌC
I. Chiếu theo Dụ số 67 ngày 30.6.1945 của Việt Nam Hoàng đế [Bảo Đại], bắt đầu học khóa 1945-1946, sẽ băi bỏ bậc Cao đẳng Tiểu học và bậc Trung học tổ chức theo thể lệ ban hành từ trước.
II. Sau bậc Tiểu học, sẽ tổ chức một bậc Trung học (trường học duy nhất). Bậc Trung học mới chia ra làm hai cấp:
1) Cấp trung học phổ thông: Gồm có bốn lớp: đệ nhất niên, đệ nhị niên, đệ tam niên và đệ tứ niên trung học phổ thông [tương đương với lớp Đệ thất, Đệ lục, Đệ ngũ, Đệ tứ hay lớp 6,7,8,9 sau này].
Mỗi lớp có hai ban: Ban A hay là ban Cổ văn. Ban B hay là ban Kim văn.
Bảng chia giờ hàng tuần và chương tŕnh học khóa đính theo đây.
Tốt nghiệp thi bằng trung học phổ thông [tương đương Trung học Đệ nhất cấp hay cấp II sau này].
2) Cấp Trung học chuyên khoa: gồm có ba lớp: đệ nhất niên, đệ nhị niên và đệ tam niên trung học chuyên khoa [tương đương Trung học Đệ nhị cấp hay cấp III sau này].
Mỗi lớp có bốn ban: Ban khoa học A chuyên về Vạn vật học.
Ban khoa học B chuyên học Toán pháp và Lư Hóa học.
Ban Sinh ngữ chuyên khoa.
Ban Hán tự chuyên khoa.
Học sinh hai ban khoa học A và B, tùy theo chí hướng và sức học, có quyền chọn học chương tŕnh Hán học hay chương tŕnh một sinh ngữ thứ hai.
III. Bắt đầu từ khai giảng niên khóa 1945-46, tất cả các trường Cao đẳng Tiểu học sẽ đổi làm trường Trung học phổ thông, và tất cả các trường trung học hiện tại sẽ đổi làm trường Trung học chuyên khoa.
Riêng trong niên khóa 1945-1946, sẽ c̣n giữ lại các lớp Triết học văn chương, Triết học khoa học và Toán pháp sơ đẳng, dành cho học sinh đă đỗ bằng Trung học Sơ cấp.
IV. Theo nghị định số 113 ngày 3/7/1945 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục Mỹ thuật, muốn vào lớp Đệ nhất trung học phổ thông [tương đương Đệ thất hay lớp 6 sau này] các trường công, học sinh phải có bằng Tiểu học và không quá 14 tuổi chẵn, kể tới ngày 31 tháng 12 dương lịch năm xin vào. Muốn vào lớp Đệ nhất niên trung học chuyên khoa [tương đương Đệ tam hay lớp 10 sau này] các trường công, học sinh phải có bằng Trung học phổ thông hay một bằng tương đương (Cao đẳng tiểu học, Brevet Elémentaire, Brevet d’enseignement primaire supérieur) và không quá 18 tuổi chẵn kể tới ngày 31 tháng 12 dương lịch năm xin vào. Riêng năm 1945, hạn tuổi thi vào hai lớp ấy gia thêm cho là 15 tuổi và 19 tuổi.
Đối với nữ học sinh, các hạn tuổi trên này đều gia thêm một năm.
V. Ngày thi và số học sinh lấy vào các lớp sẽ do Bộ Giáo dục Mỹ thuật định. Hội đồng khảo thí gồm hiệu trưởng trường chủ tịch và giáo sư mỗi cấp làm giám khảo.
VI. Các môn thi định như sau này:1) Thi vào Đệ nhất phổ thông [tương đương Đệ thất hay lớp 6 sau này]:
Một bài ám tả và câu hỏi 1 giờ nhân số 2
Một bài luận quốc văn 1 giờ nhân số 3
Hai bài toán 1 giờ 30 nhân số 3
Không thi vấn đáp
2) Thi vào Đệ nhất chuyên khoa [ tương đương Đệ tam hay lớp 10 sau này]:Một bài luận quốc văn chung cho 4 ban 2 giờ nhân số 3
Một bài toán (chung cho 2 ban khoa học A và B) 2 giờ 30 nhân số 3
Hai bài sinh ngữ (riêng cho ban Sinh ngữ) 3 giờ nhân 2 x 2 = 4
Dịch chữ Hán (riêng cho ban Hán tự) 2 giờ nhân số 4
Không thi vấn đáp
b. Nội dung chương tŕnh
Để cụ thể hóa mà không quá rườm rà, nhằm có cơ sở thực tế so sánh với các chương tŕnh đến sau, chỉ xin nêu thí dụ về chương tŕnh môn Quốc văn và môn Luân lư-Công dân giáo dục của lớp Đệ tứ niên A và B cấp Trung học phổ thông [tương đương Đệ tứ hoặc lớp 9], như sau:
CHƯƠNG TR̀NH QUỐC VĂN
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LỚP ĐỆ TỨ A VÀ B
Văn phạm: Các loại tiếng (tiếp theo). Cách đặt câu. Các thứ mệnh đề. Mỹ từ pháp [tức biện pháp tu từ].
Luận: Như lớp Đệ tam, chỉ thêm những đề hơi có tính cách văn chương.
Giảng văn:
a) Trích Đoạn trường tân thanh. Các tác phẩm khác bằng tiếng Việt của Nguyễn Du. Tỳ bà hành (bản dịch). Quốc sử diễn ca.
b) Thơ văn sau Đoạn trường tân thanh: Lư Văn Phức, Cao Bá Quát, Cao Bá Nhạ, Nguyễn Đ́nh Chiểu (trừ Lục Vân Tiên). Tôn Thọ Tường, Phan Văn Trị, Chu Mạnh Trinh, Nguyễn Công Trứ; Dương Khuê, Vũ Phạm Hàm, thơ văn cận đại và hiện đại.
CHÚ:Nhân giảng văn sẽ cho học tṛ biết ít điều đại cương về văn học sử từ đầu thế kỷ thứ XIX đến nay cùng những điều thường thức về các thể thơ: thơ cổ phong, hát nói, phú, thơ mới.
c) Văn xuôi, trích ở các tác giả, hiện tại.
CHƯƠNG TR̀NH LUÂN LƯ VÀ CÔNG DÂN GIÁO DỤC
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LỚP ĐỆ TỨ
Luân lư: Giá trị tinh thần.
Chọn nghề nghiệp theo khuynh hướng. Luân lư về chức nghiệp.
Cổ tục xấu và cổ tục tốt.- Bảo thủ và tiến bộ.- Tinh thần kỷ luật.- Tinh thần đoàn kết.- Tinh thần hy sinh.
Những tư cách phải có của người đứng chỉ huy.
Chức vụ thanh niên trong nước.
- Chức vụ anh tài trong nước.
Cần phải có một lư tưởng hoạt động.
Công dân giáo dục: Kinh tế học lược giảng.
- Sản xuất tài sản.
- Lưu thông tài sản.
- Phân phối và tiêu thụ tài sản.
Địa vị nước Việt Nam ở Đại Đông Á và trong hoàn cầu.
- Bổn phận và quyền lợi đối với vạn quốc.
- Cách dung ḥa ḷng yêu nhân loại với ḷng yêu nước.
- B́nh luận về trạng thái hiện thời của nước Việt Nam.
- Ḷng tin tuyệt đối ở tương lai nước ta.
2. Chương tŕnh Trung học 1949
a. Tổng quát
Ban hành theo Nghị định 9-NĐ/GD ngày 5/9/1949 và áp dụng từ năm học 1949-1950, dưới thời Quốc gia Việt Nam với Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục Phan Huy Quát.
Trung học chia làm 2 cấp:
(1) Phổ thông học 4 năm, gọi là lớp Đệ thất, Đệ lục, Đệ ngũ, Đệ tứ (tương đương với lớp 6,7,8,9 bây giờ).
Chia làm 2 ban: ban A Cổ điển và ban B Sinh ngữ;
(2) Chuyên khoa học 3 năm, gọi là Đệ tam, Đệ nhị, Đệ nhất (tương đương lớp 10, 11, 12 bây giờ).
Chia làm 3 ban: Khoa học, Sinh ngữ, Cổ điển.
Các môn học: Quốc văn, Hán học, Luân lư và Công dân giáo dục, Toán học, Lư Hóa học, Vạn vật học, Pháp ngữ, Anh ngữ, Triết học, Sử học, Địa dư, Vẽ, Thủ công, Âm nhạc, Dưỡng nhi, Gia chánh, May.
Phát huy thêm một bước từ chương tŕnh Hoàng Xuân Hăn, có thể coi đây là lần cải cách chương tŕnh quy mô và có tính bước ngoặt, phản ảnh tinh thần và phương pháp của nền giáo dục mới trong giai đoạn đầu du nhập Việt Nam. Những bộ chương tŕnh trung học về sau của VNCH đă được biên soạn chủ yếu dựa theo chương tŕnh này, cả về nội dung lẫn câu chữ, rồi thêm hoặc bớt một số chi tiết cho phù hợp. Dưới đây là nguyên văn “Mấy lời nói đầu” rất tâm huyết của Bộ trưởng Giáo dục Phan Huy Quát:
MẤY LỜI NÓI ĐẦU
Kể từ niên học 1949-1950, một chương tŕnh giáo dục mới bậc Trung học sẽ được áp dụng trong toàn quốc.
Tiểu ban nghiên cứu chương tŕnh giáo dục mà tôi hân hạnh lănh trách nhiệm điều khiển trong khi tiến hành công cuộc đă chú trọng đến tinh thần người công dân Việt Nam mới, không hẳn sao nhăng những yếu tố thực hiện trong giai đoạn hiện tại.
Dựa vào kinh nghiệm trong mấy năm vừa qua, cùng kết quả những công tŕnh các nhà học giả hằng lưu tâm với vấn đề giáo dục, chương tŕnh mới lấy hai nguyên tắc sau đây làm chuẩn đích:
- Gây dựng một tinh thần quốc gia mạnh mẽ và sáng suốt.
- Xúc tiến một nền giáo dục hợp với tŕnh độ khoa học hiện đại.
Phương pháp áp dụng trong các học đường sẽ là phương pháp thực nghiệm mục đích để cụ thể hóa cùng hợp lư hóa các bài học.
Nếu chương tŕnh bậc Tiểu học có tính cách phổ thông để đạt tới nền học vấn đại chúng cưỡng bách, thời chương tŕnh bậc Trung học phải sửa soạn thanh niên Việt Nam cho đủ kiến thức theo các ngành học chuyên môn.
Bậc Trung học định 7 năm, sau thời gian đó, học sinh thi Tú tài.
Tuy chương tŕnh được xếp đặt điều ḥa trong thời gian đó, nhưng ngay trong bốn niên đầu (từ Đệ thất niên đến Đệ tứ niên) [Đệ thất đến Đệ tứ, tức lớp 6 đến lớp 9 sau này], đă dạy cho học sinh những điều căn bản thường thức thiết yếu để một mặt có đủ học lực theo bậc Trung học đến cùng, một mặt giúp các học sinh luống tuổi sau 4 niên học có thể t́m việc làm hoặc theo học những trường chuyên nghiệp.
V́ mục đích đó, vả lại cũng muốn tránh nạn khoa cử có khi làm ḱm hăm năng lực học sinh được phát triển, nên sau 4 niên học đầu đó, sẽ chỉ mở kỳ thi cốt để kiểm điểm lại kết quả 4 niên học. Những học sinh đỗ trong thời kỳ này sẽ được Bộ Quốc gia Giáo dục cấp cho một chứng chỉ nhận đă học qua 4 năm.
Từ Đệ tam niên trở lên đến Đệ nhất niên [Đệ tam đến Đệ nhất, tức từ lớp 10 đến lớp 12 sau này], chương tŕnh chú ư đến việc đặt nền móng những ngành đại học chuyên môn. Học sinh theo học những ban chuyên khoa và sau ba niên học sẽ thi lấy bằng Trung học tốt nghiệp tức là Tú tài Việt Nam. Bằng này chia làm hai phần, phần thứ nhất th́ vào cuối đệ nhị niên, phần thứ hai th́ vào cuối Đệ nhất niên.
Để điều hoà chương tŕnh cùng trau giồi khả năng và sở trường học sinh Việt Nam, sẽ thiết lập những ban chuyên môn ngay từ Đệ thất niên.
Trong 4 năm đầu (từ đệ nhất niên đến đệ tứ niên) sẽ chỉ có 2 ban, ban A tức cổ điển, ban B tức sinh ngữ.
Theo danh hiệu, hai ban chỉ khác nhau ở chỗ ban A thời chú trọng đến văn chương cổ điển nước nhà và Hán học, c̣n ban B th́ cho học sinh tập học ngay những sinh ngữ chính hiện tại. C̣n về các môn khác, cả 2 ban đó vẫn giữ nguyên tính cách phổ thông như nhau.
Từ Đệ tam đến Đệ nhất niên, nguyên tắc chuyên khoa cần phải duy tŕ, nên chương tŕnh có quy định 3 ban: ban khoa học, ban sinh ngữ và cổ điển.
Những nguyên tắc, cùng phương pháp và thể thức nói trên sẽ được áp dụng một cách hợp lư, trong tất cả các môn học, tuỳ theo từng lớp, từng ban. Theo niên độ từ lớp dưới lên lớp trên, giữa các ban, chương tŕnh mới sẽ giới hạn một... [mất mấy chữ].
Vấn đề chuyển ngữ đă được giải quyết: ở bậc Trung học cũng như ở mọi bậc học khác, tiếng Việt Nam phải là chuyển ngữ.
Riêng ở bậc Trung học, học sinh sẽ có dịp trau giồi cặn kẽ tiếng mẹ đẻ trong những giờ giảng văn. Những áng văn chương tuyệt tác cùng các văn gia, thi gia trứ danh sẽ được giảng tường tận qua sự phân tách những khuynh hướng trong lịch sử văn chương nước nhà.
Ngoài Quốc văn làm chuyển ngữ, Pháp văn được chọn làm sinh ngữ chính sẽ bắt đầu dạy ở lớp Đệ thất niên [lớp 6] ban Trung học.
Về môn này, lối học thụ động áp dụng từ xưa phải bỏ đi, để nhường chỗ cho phương pháp hoạt động. Những bài văn phạm sẽ đi đôi với bài ngữ vựng hoặc giảng văn, như vậy sẽ thêm phần linh hoạt và không mất nhiều thời giờ.
Bên cạnh Pháp ngữ, c̣n có Anh ngữ, một thứ tiếng phổ thông nhất trên thế giới, tiếng này sẽ cũng được dạy ngay từ Đệ thất niên.
Về việc dạy ngoại ngữ, môn âm ngữ học [ngữ âm học] sẽ được đặc biệt chú ư.
Cũng về phần văn chương, chương tŕnh mới duy tŕ giá trị Hán tự, nên lập ra ban cổ điển. Bài học chữ Hán sẽ không c̣n là bài học khô khan, trái lại sẽ ḥa hợp với những bài giảng Việt văn. Ban cổ điển cũng như ban sinh ngữ, sẽ đào tạo sau này những sinh viên theo học văn chương trong đại học đường Việt Nam.
Toán học cùng môn Vật lư hóa, Vạn vật học trong chương tŕnh mới phải là phản ánh những sự tiến triển mới mẻ nhất của khoa học hiện đại. Phần lư thuyết sẽ thu hẹp lại trong khuôn khổ những nguyên tắc căn bản, phần thực hành trái lại sẽ dồi dào để cụ thể hóa các bài học. Vạn vật học dạy ở 4 ban từ Đệ tam đến Đệ nhất niên, nhưng chỉ có trong chương tŕnh thi Tú tài phần thứ hai.
Sử kư, Địa dư của chính nước nhà bấy lâu bị bỏ rơi sẽ được đặt vào địa vị môn học xứng đáng và tŕnh bầy, giảng dạy một cách khoa học ngoài cả những thành kiến hủ lậu hoặc nghi sử. Tuy nhiên địa dư cùng lịch sử các nước trên hoàn cầu cũng được chú trọng hơn nữa.
Môn Triết dạy ở các lớp Đệ nhất niên các ban, thứ nhất là ở ban cổ điển. Học sinh sẽ tập suy luận trong những buổi đàm thuyết hướng dẫn. Hơn nữa tư tưởng các triết gia Âu Mỹ sẽ được nghiên cứu bên cạnh các học thuyết Á Đông.
Ngoài các môn học chính kể trên, chương tŕnh Trung học mới c̣n chú ư đến phần đức dục và thể dục học sinh. Luân lư và Công dân giáo dục trong bốn năm đầu dạy cho học sinh, qua những bài học thực tế, bổn phận làm người, làm công dân trong một nước.
Bài học thể dục từ nay sẽ được bồi bổ thêm bằng những buổi tập vơ bị.
Tóm lại, đại cương chương tŕnh giáo dục bậc Trung học mới dựa trên quan niệm tổ chức một nền giáo dục quốc gia trong một nước độc lập.
Về phương diện cá nhân học sinh, nguyên tắc tổng hợp được áp dụng, vừa để các khả năng học sinh tự do nẩy nở, vừa chỉ huy những môn học thiết yếu cần trau giồi.
Về phương diện giá trị tổng quát, chương tŕnh mới này sẽ phối hợp được những sự tiến triển mới mẻ với những đặc điểm văn hóa thuần túy Việt Nam. Như vậy đối chiếu với văn bằng ngoại quốc, thứ nhất là bằng Tú tài Pháp, giá trị chắc chắn của văn bằng Việt Nam sẽ là đảm bảo cho các sinh viên Việt Nam ṭng học bất cứ ở trường đại học nào, trong nước hoặc ở ngoại quốc.
Sau cùng, Bộ Quốc gia Giáo dục thấy cần phải nói rơ thêm về việc thi hành chương tŕnh mới, v́ với thời gian thi hành, mới thấy rơ thêm các đặc điểm cùng khuyết điểm.
Tôi rất mong các giáo sư, lâu dần với kinh nghiệm thu lượm trong khi dạy học, sẽ vạch rơ quan niệm riêng, để đính chính những chỗ sai, thừa hoặc thiếu, như vậy chương tŕnh sẽ thêm phần hoàn hảo.
Hà Nội, ngày 30 tháng 8 năm 1949
Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục
PHAN HUY QUÁT
b. Nội dung chương tŕnh
Trích thí dụ chương tŕnh Quốc văn và Luân lư-Công dân giáo dục lớp Đệ tứ (tương đương lớp 9 bây giờ):
|