|
R10 Vô Địch Thiên Hạ
Join Date: Dec 2006
Posts: 88,250
Thanks: 11
Thanked 3,751 Times in 3,090 Posts
Mentioned: 5 Post(s)
Tagged: 0 Thread(s)
Quoted: 8 Post(s)
Rep Power: 110
|
3/ Thời kỳ thứ ba, từ 1945 cho đến năm 1954 :
Trước khi nói về các diễn tiến liên quan đến biên giới giữa hai bên Việt-Miên trong thời kỳ này, cũng nên nói lại một số chi tiết liên quan đến đất đai, lănh thổ sau khi Nhật đảo chánh Pháp ngày 9 tháng ba năm 1945.
Sihanouk đơn phương tuyên bố Cambodge độc lập. Tháng 6 năm 1945 Sihanouk đưa kiến nghị lên lănh đạo Nhật, xin Nhật trả lại Nam Kỳ cho Cambodge, thay v́ trả cho triều đinh Huế. Nên biết, lúc đó Nam Kỳ có qui chế là thuộc địa của Pháp, tương tự các lănh thổ hải ngoại của Pháp hiện nay như Calédonie, Gyuane hay Réunion. Quan chức Nhật chưa quyết định ǵ th́ thua trận Đại chiến trước Đồng minh.
Pháp vào lại VN, gặp nhiều sự kháng cự của kháng chiến VN, trong khi chính phủ của ông Hồ tuyên bố thành lập nước VNDCCH ngày 2-9-1945 ở miền Bắc. Do những khó khăn này, cùng với thế lực kiệt quệ do đất nước bị tàn phá do Thế chiến II, Chính phủ Pháp quyết định tổ chức các nước Đông dương để trở thành Khối liên hiệp Pháp. Ông Bảo Đại được Pháp đề nghị trả lại lănh thổ mà nhà Nguyễn đă kư giao cho Pháp trước kia. Điều kiện Bảo Đại là phải trả Nam Kỳ và nước VN là một nước thống nhất ba miền bắc, trung, nam. Pháp đồng ư nguyên tắc này và điều này được lập lại trong Hiệp định Genève 1954. Quốc gia VN được thành lập vào năm 1949, đúng với thể thức quốc tế công pháp. VN cùng với Lào và Combodge, trở thành những « quốc gia liên kết » trong khối Liên hiệp Pháp.
Phái đoàn của Cambodge được gởi qua Paris điều trần ngày 2 tháng 4 năm 1949, mục đích thuyết phục quốc hội Pháp trả lại Nam Kỳ cho Cambodge. Lư lẽ của phái đoàn Cambodge là lúc kư hiệp định bảo hộ với Pháp năm 1863, nội dung kết ước không nói đến số phận của Nam Kỳ, là v́ vương quốc này nhường đất này cho Pháp sử dụng. Bây giờ Pháp không cần đến lănh thổ này nữa, hợp lư là phải trả lại cho Cambodge chớ không thể trả cho triều đ́nh Huế.
Lư lẽ này không thuyết phục được chính giới Pháp v́ lẽ, các tỉnh Nam Kỳ là do triều đ́nh Huế nhượng cho Pháp theo các hiệp ước 1862 và 1874. Trong khi hiệp định 1863 giữa Pháp và Miên th́ không hề có một điều bảo lưu nào về lănh thổ.
Quốc hội bác yêu sách này với đa số. Nhưng yêu sách về lănh thổ của Cambodge th́ được một số dân biểu cách tả của quốc hội Pháp ủng hộ.
Thấy đ̣i nguyên cả Nam Kỳ không xong, ngày 2-5-1949 Quốc hội Cambodge cho ra một kiến nghị yêu cầu nhà nước Pháp phân định lại biên giới. Những người này cho rằng biên giới giữa Nam Kỳ và Miên chưa bao giờ được phân định. Các cuộc phân định trước hoàn toàn mang tính cách thiên vị, gây thiệt hại cho Cambodge. Kiến nghị này cũng bị quốc hội Pháp bác bỏ.
Do căm hận Pháp đă không thỏa măn các yêu sách của ḿnh, Sihanouk có khuynh hướng nghiêng về Trung Cộng, là một thế lực đang lên, đứng sau chính phủ Hồ Chí Minh, đối đầu với Pháp trong vấn đề VN. Ông này nghĩ rằng TQ sẽ dùng chính phủ của ông chống lại Pháp ở mặt trận phía tây. V́ thế trong hội nghị Genève 1954, Sihanouk công bố trước các đại cường yêu sách về lănh thổ của Cambodge. Sihanouk đề nghị 6 giải pháp, hết sức là cường điệu, có nội dung dẫn lại sơ lược như sau :
Sihanouk đ̣i, hoặc trả lại cho Cambodge toàn vùng đất phía hữu ngạn sông Hậu Giang, bao gồm thêm các tỉnh Trà Vinh, đảo Phú Quốc và vùng đất giới hạn giữa kinh Tân Châu và sông Tiến Giang đồng thời tàu bè Cambodge có quyền quá cảnh ở Sài G̣n.
Hoặc là trả lại các vùng lănh thổ trải dài cho tới hữu ngạn sông Tiền Giang, gồm các tỉnh Hà Tiên, Châu Đốc, Long Xuyên, Cần Thơ, Sóc Trăng, Trà Vinh, Vĩnh Long, Sa Đéc và đảo Phú Quốc, quyền được quá cảnh ở Sài G̣n đồng thời dân Khmer phai được bảo vệ.
Hoặc phải « quốc tế hóa Nam Kỳ », kinh Vĩnh Tế và hải cảng Sài G̣n có qui chế tự do, băi miễn thuế quan. C̣n không là phải đặt Nam Kỳ và đảo Phú Quốc dưới sự quản trị của LHQ.
Các đ̣i hỏi phi lư này không được nước nào ủng hộ. Sự bẽ bàng của Sihanouk càng lên cao trong hội nghị Genève tháng 8 năm 1954 giữa Pháp và các nước Đông dương. Yêu sách của Sihanouk dĩ nhiên không được ngó ngàng đến. Tuy vậy, kết cuộc hội nghị nh́n nhận Cambodge được quyền thông lưu trên sông Cửu Long để ra biển cũng như được quyền sử dụng thuơng cảng Sài G̣n. Nhưng các điều này bị VN bảo lưu, lư do cần xem xét lại luật lệ quốc tế để xem rằng Cambodge có chính đáng được hưởng các quyền này hay không ? Cuối cùng th́ các quyền này của Cambodge bị VN bác bỏ dưới thời ông Diệm.
4/ Thời kỳ thứ tư, từ 1954 đến 1975.
Sau thất bại ở hội nghị Genève 1954, Sihanouk nuôi dưỡng ư định trả thù. Ông này dung dưỡng mọi thế lực chống lại chính phủ Bảo Đại, sau này là Ngô Đ́nh Diệm.
Một số thí dụ, các lực lượng tôn giáo chống ông Diệm được Sihanouk cho phép lập sào huyệt trên đất Miên. V́ vậy để tảo thanh, quân VNCH buộc phải đi vào đất của Cambodge. Các xung đột này bắt đầu từ năm 1955. Dĩ nhiên, Sihanouk lợi dụng các việc này vừa tố cáo VN, trong khi trên thực địa th́ cho người dời cột mốc phân giới sang phía VN. Để trả đũa, ông Diệm tuyên bố hủy bỏ mọi « quyền lịch sử » của Cambodge trên lănh thổ VN.
Đến năm 1960 th́ lực lượng MTGPMN được thành lập. Tổ chức này cũng xây dựng sào huyệt trên lănh thổ Cambodge, dĩ nhiên dưới sự đồng ư ám thị của Sihanouk. Theo một số tài liệu, phía VNDCCH « nh́n nhận đường biên giới hiện trạng của Cambodge », trong khi MTGPMN, cũng như nhiều cán bộ cấp cao của CSVN, th́ hứa hẹn, nếu thắng được VNCH th́ sẽ trả lại đảo Phú Quốc cho Cambodge.
V́ các hứa hẹn này các đường ṃn gọi là đường ṃn HCM được Sihanouk đồng ư cho thiết lập. Con đường huyết mạch tiếp tế lương thực và vũ khí cho quân MTGPMN cũng như quân chính qui miền Bắc sau này.
Quan hệ giữa Sihanouk và VNDCCH thân thiết đến mức độ vào tháng 8 năm 1963, Cambodge tuyên bố chấm dứt ngoại giao với VNCH.
Sau khi ông Diệm bị đảo chánh 1-11-1963, quan hệ hai bên VNCH và Cambodge vẫn không ấm áp trở lại, mà c̣n tệ hai hơn. Nguyên nhân, người Mỹ chính thức đổ quân vào VN, các cuộc hành quân, càn quét, dội bom trên đất Kampuchia nhằm phá hoại đường ṃn HCM… các việc này gây ra những thiệt hại đáng tiếc cho phía thường dân Kampuchia. Tháng 7 năm 1965, Sihanouk kiện VNCH lên LHQ về việc xâm phạm lănh thổ. LHQ có điều tra nhưng chỉ kết luận rằng VNCH có vào lănh thổ Cambodge sau đó rút về, v́ lư do bên Cambodge có dung chứa các lực lượng đối kháng, chứ VNCH không có xâm chiếm lănh thổ của Cambodge.
Không hài ḷng kết quả điều tra của LHQ, Sihanouk lên tiếng kêu gọi quốc tế ủng hộ Cambodge, nh́n nhận « đường biên giới hiện trạng » của nước này. Một số nước ủng hộ, trong đó có Pháp. Điều này có thể hiểu v́ Pháp vẫn c̣n cay đắng Mỹ trong việc dành chỗ của Pháp tại Đông Dương, không giúp Pháp trong trận Điện Biên Phủ. Năm 1966 Pháp ủng hộ Cambodge « trung lập ». Nhưng việc này không thuyết phục được ai v́ tên đất Kampuchia vẫn c̣n nguyên các sào huyệt của MTGPMN cũng như các con đường tiếp tế gọi là đường ṃn HCM.
Cuối cùng th́ Sihanouk bị tướng Lon Nol lật đổ năm 1970.
Sau khi lên nắm quyền, Lon Nol yêu cầu tất cả các lực lượng của CSVN rút khỏi Kampuchia. Cũng như bất kỳ một người Cambodge nào khác, Lon Nol cũng rất bài Việt. Trong lúc cuộc đảo chánh, các cuộc thảm sát thường dân VN đă diễn ra, thây người thả đầy trên sông Cửu Long. Một số lớn người Việt phải hồi hương. Việc này càng tạo thêm gánh nặng và sự bất ổn trong xă hội miền Nam.
Lực lượng Khmer đỏ được thành lập dưới sự yễm trợ và huấn luyện của CSVN. Trên thực tế, vùng phía bắc lănh thổ Kampuchia hoàn toàn do quân đội CSVN kiểm soát. Nhưng trong nội bộ của Khmer đỏ lại có nhánh có tinh thần bài Việt cực kỳ. V́ thế họ ly khai. Những nhóm này cũng giết chóc và khủng bố đồng thời trục xuất người Việt, như những lănh đạo khác của Kampuchia.
Tóm lại, thời kỳ này đường biên giới, cũng như kiều dân VN sống trên đất Kampuchia, trở thành con tin bị các phía Kampuchia trao đổi quyền lợi chính trị. Trong thời chiến, vấn đề biên giới không kiểm soát được, nhưng dân chúng VN là nạn nhân trực tiếp của các tranh chấp này. Con số nạn nhân VN bị giết phải nói là rất lớn.
5/ Thời kỳ thứ năm từ 1975 đến hôm nay.
Từ năm 1975 cho đến 1990, ta có thể nói rằng khu vực Đông dương vừa là một chiến trường, vừa là một bàn cờ địa chiến lược của các thế lực quốc tế, gồm có các nước liên hệ trong khu vực và các đại cường Trung Cộng, Liên Xô và dĩ nhiên là Mỹ. Vấn đề biên giới, Cambodge không chỉ có tranh chấp với VN mà c̣n có tranh chấp với Thái Lan về chủ quyền ngôi đền Préah Viheart cũng như ranh giới ngoài biển, từ sau khi lấy lại độc lập năm 1953. Trong thời gian này vấn đề biên giới giữa các bên không chính thức đặt ra, mặc dầu nó luôn là cái cớ để chiến tranh bùng nổ. Nhất là đối với hai nước Việt-Miên.
Sau khi quân Pol Pot tiến vào Nam Vang, cũng như quân miền Bắc chiếm Sài G̣n. Tháng 6 năm 1975, một phái đoàn của Khmer đỏ gởi đến Hà Nội để nhắc lại những cam kết của CSVN : « nh́n nhận đường biên giới hiện trạng của Cambodge » trong thập niên 60 về vấn đề lănh thổ của Kampuchia. Những người này, theo dự kiến là sẽ kư kết ước với Hà Nội để bảo đảm sự « toàn vẹn lănh thổ » của hai nước. Nhưng nhóm Khmer đỏ thân TQ trong phái đoàn bất đồng ư kiến với nhóm thân Hà Nội. Phe thân Bắc Kinh lên tiếng đ̣i VN trả lại cho họ vùng lănh thổ gọi là « Khmer Krom ». Điều nên biết, chiến thắng ngày 30-4-1975 của CS miền Bắc đă làm cho lănh đạo Bắc Kinh tức tối. Chủ trương của TQ từ xưa nay là chống lại VN thống nhất, cũng như chống lại việc VN quá thân thiện hay lệ thuộc vào Liên Xô. Phía bắc, áp lực của Liên Xô đă trầm trọng, quân Liên Xô đóng dài dài trên biên giới gây áp lực. Biển Hoa Đông th́ bị Nhật, Đài Loan án ngữ. Biển Đông th́ hạm đội Liên Xô đă có mặt tại Cam Ranh. Nếu Kampuchia ḥa hoăn hay thân thiện với VN th́ TQ sẽ không có cách ǵ để phá vỡ thế cô lập. Mặt khác, quyền lợi của Mỹ cũng bị đe dọa, các nước chung quanh như Thái Lan, Mă Lai v.v… sẽ sụp đổ, theo như thuyết Domino của Mỹ. V́ vậy Bắc Kinh, cũng như Mỹ, chắc chắn phải t́m cách đẩy hai bên VN và Kampuchia vào thế đối đầu.
V́ thế, cả hai đại cường, Mỹ và TQ, một tư bản, một cộng sản, do cùng mục tiêu ngăn chặn Liên Xô bành trướng, lại hợp tác với nhau, ra mặt ủng hộ Pol Pot chống lại VN. Dĩ nhiên, nguyên nhân bên ngoài là tranh chấp đất đai, nhưng bên trong là sự tranh giành ảnh hưởng địa chiến lược trong khu vực của các đại cường. V́ vậy, như đă nói, lănh thổ trong quảng thời gian này là cái cớ để chiến tranh bùng nổ.
Để kích thích VN vào ṿng chiến, trong lúc phái đoàn Khmer đỏ c̣n ở Hà Nội th́ quân Khmer đỏ đă đánh chiếm cù lao Poulo Wai trong vịnh Thái Lan. Dọc biên giới th́ quân Khmer đỏ đă sẵn sàng dàn quân ứng chiến. Như thường lệ, những người dân VN sinh sống ở Kampuchia lại trở thành nạn nhân. Trên 150.000 người bị ngược đăi, trục xuất về VN. Con số bị giết không biết là bao nhiêu, nhưng chắc chắn không nhỏ. Tháng 6 năm 1976, VN gởi sứ giả sang Nam Vang hy vọng làm dịu t́nh h́nh, nhưng phía Khmer đỏ đ̣i phải phân định lại biên giới, thay đổi đường biên giới theo các bản đồ của Sở địa dư Đông dương ấn hành năm 1954, trong khi phía VN th́ nh́n nhận đường biên giới hiện trạng là đường biên giới thể hiện trên bộ bản đồ này. Mặt khác, hai bên cũng không đồng thuận về biên giới trên biển.
Phía Khmer đỏ gia tăng khiêu khích, từ năm 1975 đến 1978, bọn này đă tiến sang VN đánh phá và tàn sát dân chúng ở 25 huyện và 96 xă, gây ra trên 257.000 nạn nhân màn trời chiếu đất. Trong năm 1977, Pol Pot cho quân lính tiến sang Tây Ninh tàn sát dân chúng sinh sống ở đây, nhưng sự phản ứng của quân VN, do thiện chiến hơn, đă làm cho quân Khmer thiệt hại nặng. Và cũng để trả đũa những vụ tàn sát dân lành vô tội sinh sống các tỉnh dọc biên giới, tháng 12 năm 1977, VN mở một cuộc hành quân thần tốc vào tỉnh Svay Rieng khiến quân Khmer đỏ thiệt hại nặng nề. Cuối năm, Pol Pot tuyên bố chấm dứt quan hệ ngoại giao với VN.
Chiến tranh Việt-Miên bùng nổ. Dưới sự quan sát của các học giả quốc tế, cuộc chiến này là một cuộc chiến « ủy nhiệm ». Pol Pot đánh VN là đánh cho Trung quốc. C̣n VN đánh là đánh cho Liên Xô.
Tháng 12 năm 1978, quân VN tiến vào Nam Vang, đánh đuổi Pol Pot và thành lập chính phủ thân VN ở đây. Cùng với chính phủ này, VN đă kư kết các hiệp định « các nguyên tắc giải quyết các vấn đề biên giới ». Trên đất liền kư năm 1982, trên biển kư năm 1983.
Trả lời phỏng vấn báo chí, Nguyễn Cơ Thạch cho rằng VN tôn trọng đường biên giới hiện trạng theo bộ bản đồ Đông dương 1/100.000. Nhưng Sihanouk, năm 1984, tố cáo trước dư luận, qua thủ tướng Thái Lan, rằng VN đă chiếm vùng « mỏ vịt », tức là tỉnh Svay Rieng.
Về biên giới trên biển, theo nội dung các văn bản tham khảo được th́ hai bên cùng đồng ư “lấy đường Brévié được vạch ra năm 1939 làm đường phân chia các đảo trong khu vực này”, hai bên đồng thuận về « vùng nước lịch sử » trong khu vực đảo Phú Quốc và “sẽ thương lượng vào thời gian thích hợp… để hoạch định đường biên giới biển giữa hai nước”.
Đảo Wai được VN trả lại cho Kampuchia.
Tháng 12 năm 1985 hai bên kư lại « Hiệp ước hoạch định biên giới ». Ngày 10-10-2005 kư thêm « Hiệp ước bổ sung » về biên giới. Hai bên bắt đầu cắm mốc từ năm 2006. Ta thấy tỉnh Svay Riêng, tức vùng Mỏ vịt, vẫn thuộc lănh thổ của Kampuchia. Tức là lời tố cáo của Sihanouk là không đúng.
Điều nên biết, sau khi quân Pol Pot vào Nam Vang thành lập chính quyền th́ Sihanouk được mời về làm quốc trưởng. Nhưng liền sau đó th́ bị bạc đăi, tính mạng bị đe dọa. Bắc Kinh t́m cách can thiệp và đưa ông này đi Trung Quốc. Ở Bắc Kinh Sihanouk được đối đăi như là một thuợng khách. Bởi v́ lănh đạo Trung Nam Hải biết được giá trị ở con cờ Sihanouk. Ông vua này có thể làm bất cứ điều ǵ để chống lại VN. Cũng v́ lư do này mà đất nước Kampuchia điêu linh, thần dân của ông bị nhà nước Khmer đỏ tiêu diệt gần 1/3, trong đó có họ hàng thân thích của ông. Điều trớ trêu là nhà nước này do TQ dựng lên, lúc đó ông là một thành phần của nhà nước này.
Tuy vậy, hiện nay TQ vẫn là một đồng minh được ưa chuộng tại Kampuchia. Người Việt ở đây bị kỳ thị bao nhiêu th́ người Hoa được ưu đăi bấy nhiêu. Toàn thể huyết mạch kinh tế TQ hiện nay là do 10 gịng họ người Hoa nắm giữ. Liên minh Trung Hoa – Khmer hứa hẹn sẽ bền chặt lâu dài mà chất keo hàn gắn hai bên là tinh thần bài Việt. Vấn đề lănh thổ luôn được các bên sử dụng như là một cái cớ để khích động dân chúng để chống đối VN.
6/ Yếu tố Trung Quốc.
Như đă nói ở trên, sau 1975, lănh thổ chỉ là cái cớ để TQ kích động khiến Khmer đỏ gây hấn VN. Th́ bây giờ cũng vậy, vấn đề lănh thổ cũng là cái cớ để TQ khích động tinh thần bài Việt trong dân chúng Kampuchia trong thời gian gần đây.
Vấn đề là biên giới trên đất liền đă được hai bên kư hiệp định và các mốc giới vừa được cắm xong. Hai bên đều thỏa măn với yêu sách của ḿnh, v́ việc phân giới được thực hiện trên tinh thần b́nh đẳng, không ai ép ai. Do đó sử dụng lănh thổ vùng biên giới để kích động đă không c̣n hữu hiệu. Những người Kampuchia hiện nay lên tiếng chống VN thuộc phe Sam Rainsy, một người theo dân tộc chủ nghĩa, rất thân TQ. Lá cờ đầu để những người này trương lên chống VN trước kia là các cột mốc biên giới, nay đổi lại là vùng Khmer Krom và những người dân bản địa sống ở đó.
Nhưng việc khích động người dân như thế không dễ dàng, nếu không có một cái cớ chính đáng nào đó. Điều này lại do nhà cầm quyền CSVN tạo ra. Đó là chính sách hà khắc của nhà cầm quyền này lên những người dân của họ. Điều này không làm ai ngạc nhiên, v́ chính đồng bào ruột thịt của họ là dân miền Nam cũng bị phân biệt đối xử. Những người dân bản địa (mà nhiều người hiện nay gọi là người Việt gốc Miên) bị truất hữu ruộng đất, và đây là nguyên nhân của mọi nguyên nhân khiến người dân ở đây chống nhà cầm quyền VN.
Nếu ta xét lại những đ̣i hỏi của những người tổ chức biểu t́nh chống VN ở Nam Vang th́ ta thấy nó không rơ ràng, đôi khi mâu thuẩn. Những yêu sách của họ như buộc VN phải « nh́n nhận sự thật lịch sử », hay nh́n nhận « VN chiếm đất của Kampuchia » đều có vẻ không thực tế.
Vấn đề là họ đă lầm lẫn giữa quyền sở hữu đất đai của những người dân bản địa bị nhà nước CSVN truất bỏ, với chủ quyền về lănh thổ.
VN có chủ quyền về lănh thổ ở các khu vực mà dân Khmer gọi là Khmer Krom, điều này đă được củng cố bởi thời gian hàng nhiều thế kỷ qua, cũng như được bảo đảm bởi luật lệ quốc tế. Ư nghĩa của từ chủ quyền ở đây là « quyền lực chủ tể » trên vùng lănh thổ đó chứ không phải là « quyền làm chủ », hay quyền sở hữu vùng lănh thổ đó như nhiều người đă hiểu lầm. Quyền lực chủ tể có thể ban phát quyền sở hữu về đất đai, nhưng cũng có thể truất hữu, hay băi bỏ quyền đó. Vấn đề là nhà nước CSVN lạm dụng « quyền chủ tể » này, truất hữu hàng loạt ruộng đồng, nhà cửa, không chỉ của dân bản địa, mà của nhân dân trên khắp ba miền đất nước, gây sự bất măn cùng cực nơi mọi tầng lớp người dân. Cán bộ CS lạm dụng quyền chức, lấy đất của người thấp cổ bé miệng giao cho những thế lực tài phiệt nhằm trục lợi. Các điều này tạo ra những bất công, làm cho sự thù hận của người dân ngun ngút đến trời cao.
V́ vậy, do nhập nhằng về khái niệm, những người dân bản địa phẫn uất đă bỏ VN sang sinh sống ở Kampuchia. Tại đây họ được các thế lực bài Việt kích động, trở lại chống VN. Điều cần nhấn mạnh : họ là người VN, sinh đẻ tại VN, tổ tiên của họ đă ở trên vùng đất đó từ lâu đời. Điều ngạc nhiên là đến bây giờ những người này vẫn bị xem là « người Việt gốc Miên ». Tức là chính sách phân biệt giai cấp của CSVN đă đổi màu để biến thành chủ nghĩa phân biệt chủng tộc.
|